39.5 C
Hanoi
Chủ Nhật, 7 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 41

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 39

0

Chương 12

CẦU TÀI

求 財

(Tuvivietnam – siêu tầm)

居 貨 曰 賈 行 貨 曰 商 總 為 資 生 之 計
蓍 所 以 筮 龜 所 以 卜 莫 非 就 利 之 謀
要 問吉 凶 但 看 財 福
Cư hoá viết Cổ, hành hoá viết Thương, tổng vi tư sinh chi kế.
Thi sở dĩ Phệ, qui sở dĩ Bốc, mạc phi tựu lợi chi mưu.
Yếu vấn cát hung đản khán Tài Phúc.
Cất hàng tại nhà là Cổ, đem hàng đi gọi là Thương, tất cả đều là kế thêm của,
Cỏ thi để bói Phệ, mai rùa để Bốc, bói gì cũng chỉ vì tính lợi.
Cần hỏi cát hung chỉ xem Tài, Phúc.
Tài là vốn, Phúc là lời. Hai yếu tố này không thể tổn hại. Trong quẻ hào Tử Tôn gọi là Phúc thần.


1. 財 旺 福 興 無 問 公 私 皆 稱 意
財 空 福 絕 不 拘 營 運 總 違 心
Tài vượng, Phúc hưng, vô vấn công tư giai xứng ý
Tài Không, Phúc Tuyệt, bất câu doanh vận tổng vi tâm
Tài vượng, Phúc động chẳng kể công hay tư đều vừa lòng
Tài Không, Phúc Tuyệt chẳng kể mưu cầu gì cũng trái lòng.
Tài vượng tướng, Tử Tôn phát động, không kể mưu tính công hay tư đều hợp ý. Nếu bị thương khắc hay lâm Mộ Tuyệt, mà không được cứu, buôn bán gì cũng trái với ý nguyện.

2. 有 福 無 財 兄 弟 交 重 偏 有 望
Hữu Phúc vô Tài, Huynh Đệ giao trùng thiên hữu vọng
Có Phúc mà không có Tài, Huynh Đệ động hơi có hi vọng.
“Hữu” là có ý nói phát động, “Vô” có ý nói Phục tàng. Phàm xem cầu tài mà trong quẻ Tử Tôn phát động, mà không bị thương khắc, thì tài nguyên dồi dào vững chắc, cho nên tốt. Lại nếu hào Huynh phát động sinh phò Tử Tôn, thì càng củng cố gốc rễ. Cho nên mới bảo Huynh Đệ giao trùng thì có hi vọng đều là vì Tử Tôn cũng động.

3. 有 財 無 福 官 爻 發 動 亦 堪 求
Hữu Tài vô Phúc, Quan hào phát động diệc kham cầu
Có Tài không có Phúc nếu hào Quan động cũng có thể mong được.
Tử Tôn phục, Tài không có sinh khí, nếu gặp Huynh Đệ tất bị cướp đoạt, cần trong quẻ có hào Quan phát động, hoặc Nhật thần là Quan để khắc chế Huynh Đệ thì có thể cầu tài được. Nếu lại có Tử Tôn động, thì dù Quan Quỷ động cũng bị trở ngại, ngược lại không dễ dàng.

4. 財 福 俱 無 何 異 守 株 待 兔
Tài Phúc câu vô hà dị thủ châu nhi đãi thố
Tài Phúc đều không có, nào khác gì ôm cây đợi thỏ.
Có Tài không có Phúc thì tiền bạc khó khăn, há cả Tài và Phúc đều không có, nào khác gì vọng tưởng ôm cây đợi bắt được thỏ.

5. 父 兄 皆 動 無 殊 緣 木 求 魚
Phụ Huynh giai động vô thù duyên mộc dĩ cầu ngư
Phụ và Huynh đều động không khác gì trèo cây để bắt cá.
Phụ Mẫu khắc Tử Tôn mà sinh Huynh Đệ. Phụ và Huynh đều động thì như trèo cây bắt cá, ý nói không thể nào được.

6. 月 帶 栽 神 卦 雖 無 而 月 中 必 有
Nguyệt đới Tài thần, quái tuy vô nhi nguyệt trung tất hữu
Nguyệt kiến là Tài thì quẻ tuy không có hào Tài. nhưng trong tháng thì có tiền.
Nguyệt kiến là giềng mối của quẻ, nếu lâm hào Tài, tuy trong quẻ không có hào Tài nhưng hào Tài phục cũng được Nguyệt kiến phò củng, gặp ngày trị tất được.

7. 日 傷 妻 位 財 雖 旺 而 當 日應 無
Nhật thương Thê vị, Tài tuy vượng nhi đương nhật ứng vô
Nhật hình thương hào Thê, thì dù hào Tài vượng mà ngay ngày đó cũng không có)
Tài hào vượng tướng sinh hợp với Thế hào hoặc trì Thế hào tất tượng sẽ có. Nếu bị Nhật thần khắc chế thì phải qua ngày đó mới có thể được.

8. 多 財 反 覆 必 須 墓 庫 以 收 藏
Đa Tài phản phúc, tất tu Mộ khố dĩ thu tàng
Nhiều hào Tài thì tráo trở, tất cần nhập Mộ để cất giữ.
Trong quẻ hiện hai ba hào Tài là thái quá, thì Tài tráo trở khó mong được, cần có Mộ khố của Tài trì Thế thân mới gọi là được cất gĩư thì mới có lợi.

9. 無 鬼 分 爭 又 怕 交 重 而 阻 滯
Vô Quỷ phân tranh, hựu phạ giao trùng nhi trở trệ
Không có Quỷ tất tranh chia, lại sợ động mà trở ngại.
Không có Quỷ tất hào Huynh chuyên quyền, Tài tuy hữu khí cũng bị tiêu hao. Nếu Huynh lại phát động tất lo có tranh đoạt phân tán tiền của. Quan Quỷ lại không nên động, động tất có troẹ ngại.

10. 兄 如 太 過 反 不 剋 財
Huynh như thái quá phản bất khắc Tài
Huynh hào nếu quá nhiều thì ngược lại không khắc hào Tài.
Huynh Đệ là hào kị sát khi xem cầu tài. Nhật Nguyệt, hào động, hào biến đều là Huynh, thì hào Huynh thái quá. Nếu thấy Tử Tôn động, ngược lại Huynh chẳng khắc Tài mà là lợi vô cùng. Tử Tôn an tĩnh thì phần lớn không tốt[1].

11. 身 或 兄 臨 必 難 求 望
Thân hoặc Huynh lâm tất nan cầu vọng
Nếu Thân lâm Huynh tất khó mưu cầu.
Hào Quái thân là hào thể thống khi xem cầu tài, nếu trì Huynh thì bất cứ buôn bán gì, hỏi về tiền của gì cũng bất lợi. Huynh Đệ trì Thế cũng vậy.[2]

12. 財 來 就 我 終 須 易
我 去 尋 財 必 是 難
Tài lai tựu ngã chung tu dị
Ngã khứ tầm tài tất thị nan.
Tài đến tìm Ta rồi sẽ dễ,
Ta đi tìm Tài tất sẽ khó.
Tài hào sinh hợp Thế hào, khắc Thế, trì Thế là Tài đến tìm Ta, tất nhỉên dễ được. Nếu hào Tài với hào Thế không liên quan, thì gọi là Ta đi tìm Tài, tất khó hi vọng được.

13.身遇 旺 財 似 守 囊 中 之 物
世 持 動 弟 如 撈 水 底 之 針
Thân ngộ vượng Tài tự thủ nang trung chi vật
Thế trì động Đệ như lạo thuỷ để chi châm
Thân gặp Tài vượng giống như lấy vật ở trong túi,
Thế trì Huynh Đệ động tựa như mò kim đáy nước.
Thế là người cầu tài, nếu lâm hào Tài, tuy vô khí tất cũng chủ dễ được, nếu vượng tướng lại càng tốt. Nếu lâm Huynh Đệ mà dù an tĩnh cũng chủ khó được, động thì càng hại.

14. 福 變 財 生 穰 穰 利 源 不 竭
Phúc biến Tài sinh, nhương nhương lợi nguyên bất kiệt
Phúc động sinh Tài, dồi dào nguồn lợi không dứt.
Xem cầu tài mà Tử Tôn động thì lợi lâu dài,lại thêm hào Tài sinh hợp Thế thân là tượng liên miên không hết. Nếu Tài hoá Tử cũng thế.

15. 兄 連 鬼剋 紛 紛 口 舌 難 逃
Huynh liên Quỷ khắc phân phân khẩu thiệt nan đào
Huynh cùng Quỷ khắc, khó tránh khẩu thiệt rối rắm.
Ngày xưa chú thích là Huynh Đệ biến Quan Quỷ rồi khắc Thế hàol à bị khẩu thiệt rối rắm. Ta cho nói như cậy là sai lầm. Nói chung trong quẻ mà Huynh Đệ động khắc Thế, mà Huynh hoá Quan Quỷ hồi đầu khắc thì chắc chắn chẳng bị khẩu thiệt hao tổn. Ta thường thấy ứng nghiệm. Trong quẻ mà Quan Quỷ và Huynh Đệ cùng phát động thì chắc chắn có thị phi khẩu thiệt. Câu này là nói Huynh Đệ với (liên) Quan Quỷ, chứ không nói Huynh Đệ hoá Quan Quỷ .

16. 父 化 財 必 辛 勤 而 有 得
Phụ hoá Tài tất tân cần nhi hữu đắc
Phụ hoá Tài tất vất vả mới được.
Phụ hoá Tài thì không thể tự nhiên mà được, phải vất vả mới có. Huyn h hoá Tài thì trước tầnm sau tụ, hoặc không lợi lúc đầu mà lợi về sau. Quan hoá Tài mà sinh hợp Thế thân, lợi ở chốn công môn, lợi yết kiến quí nhân, cho người cửu lưu thuật sĩ, cầu tại hoàn toàn hi vọng. Nếu Quan lại khắc Thế là giúp Quỷ hại thân, việc công hay tư đều không tốt.

17. 財 化 鬼 防 耗 折 而 驚 憂
Tài hoá Quỷ phòng hao chiết nhi kinh ưu
Tài hoá Quỷ phòng hao tổn mà lo sợ.
Tài hoá Quan hoặc hoá Huynh rất hung, chủ hao tổn. Lại nếu Thế hào bị thương, e vì tiền mà mang hoạ.

18. 財 局 合 福 神 萬 倍 利 源 可 許
Tài cục hợp Phúc thần vạn bội lợi nguyên khả hứa
Hợp thành Tài cục hay Phúc cục, có thể chắc lợi vạn phần.
Trong quẻ có tam hợp thành Tài cục, động sinh Thế tất chủ lợi liên miên không dứt, lại được Tài vượng thì chắc lợi vạn phần. Hợp thành Phúc cục sinh hợp Thế hào cũng vậy.

19. 歲 君 逢 劫 一 n年 生 意 無 聊
Tuế quân phùng Kiếp nhất niên sinh ý vô liêu
Tuế quân gặp Kiếp, một năm làm ăn chán nản)
Phàm xem làm ăn lâu dài, sợ nhất là Thái Tuế lâm Huynh Đệ, chủ một năm bất lợi, trì Quan Quỷ chủ một năm lo sợ, trì Phụ Mẫu chủ một năm vất vả, trì Tài Phúc chủ một năm thuận lợi.

20. 世 應 二 爻 空 合 虛 約 難 憑
Thế Ứng nhị hào Không hợp hư ước nan bằng
Hài hào Thế và Ứng lâm Không mà hợp thì là hứa hẹn không có căn cứ.
Thê lâm Không khó kiếm được tiền, Ứng lâm Không khó dựa vào người khác. Thế và Ứng đều Không mưu sự hkhông chuẩn thực, Không mà động hợp thì là hư ước, hoá Không cũng thế.

21. 主 人 一 位 刑 傷 往 求 不 遇
Chủ nhân nhất vị hình thương vãng cầu bất ngộ
Hào chủ bị hình thương, đến cầu không gặp.
Chủ nhân là như cầu tài ở quí nhân thì Quan hào làm chủ, cầu tài ở phụ nữ thì Tài hào làm chủ, đại loại như thế. Chủ hạo bị Nhật thần, động hào ình thương, hoặc lâm Không hoặc hoá Khôngđều chủ đến không gặp, mà có gặp cũng chẳng lợi.

22. 世 持 空 鬼 多 因 自 己 遲 疑
Thế trì Không Quỷ đa nhân tự kỷ trì nghi
Thế trì Quỷ lâm Không phần lớn vì mình chần chờ nghi ngờ.
Thế trì Quỷ tất được hào Tài sinh, phàm cầu Tài tất dễ. Nếu lâm Không thì tự mình không hăn hái, nghi ngò mà lui, cho nên không thành tựu. Thế trì Tài lâm Không cũng thế.

23. 日 合 動 財 卻 被 他 人 把 住
Nhật hợp động Tài khước bị tha nhân bả trú
Nhật hợp với Tài động thì bị người khác nắm giữ.
Tài hào động đến sinh hợp là tượng dễ dàng kiếm được. Nếu bị động hào, Nhật thần hợp với hào Tài động này, tất bị người khác nắm giữ khó đến với ta. Muốn biết người nào nắm giữ thì lấy hào hợp mà đoán định, như hào Phụ là bậc tôn trưởng chẳng hạn. Muốn biết ngày nào đến tay mình, tất đợp ngày xung mới được.

24. 要 知 何 日得 財 不 離 生 衰 旺 合
Yếu tri hà nhật đắc Tài, bất li sinh suy vượng hợp
Muốn biết ngày nào được tiền thì chẳng rời lẽ sinh ,vượng, hợp.
Tài động nhập Mộ, hoặc bị hợp thì đợi ngày xung sẽ được; hoặc Tài động gặp Tuyệt thì chờ ngày sinh sẽ được; gặp xung thì chờ ngày hợp; gặp Nguyệt phá thì chờ ngày điền thực, ngày hợp sẽ được; như an tĩnh thì đợi ngày xung sẽ được; gặp Tuần không thì chờ ngày xuất Tuần; phục thì chờ ngày xuất hiện.

25. 欲 决 何 時 有 利 但 詳 春 夏 秋 冬
Dục quyết hà thời hữu lợi, đản tường xuân hạ thu đông
Muốn đoán lúc nào có lợi, chỉ cần rõ xuân hạ thu đông.
Phàm xem hàng hoá lúc nào dược giá không thể đại khái lấy ngũ hành của hào Tài để đoán,như hào Mộc thì đoán xuân và đông được giá, mà lại nên dùng các phép xung thì đợi hợp, hợp thì đợi xung, Tuyệt thì đợi Sinh, Mộ thì đợi lúc xung khai…để đoán. Lại nên dùng hào Tử Tôn để đoán, như Tài ở Trường Sinh thì ngày càng được giá, gặp Đế Vượng thì trước mắt được giá, chậm trễ thì hạ giá mà không có lời.

26. 合 夥 不 嫌 兄 弟
Hợp khoả bất hiềm Huynh Đệ
Hùn hạp thì không hiềm Huynh Đệ.
Phàm xem hùn hạp buôn bán, nếu Thế Ứng đều là Tài hào tất hợp ý. Huynh lâm Quái thân ấy là nguyên nhân dẫn đến chia của cải, nhưng tĩnh thì không ngại mà động thì không nên.

27. 公 門 何 慮 官 爻
Công môn hà lự Quan hào
Cửa công lo gì hào Quan.
Xem về Tài đều kị Quan động, chủ sợ có cản trở. Xem về Tài cho cửa quan tất phải dựa vào quan phủ, nên Quan cần sinh hợp Thế thân mới tốt, còn khắc Thế tất hoạ đến ngay.

28. 九 流 術 士 偏 宜 鬼 動 生 身
Cửu lưu thuật sĩ thiên nghi Quỷ động sinh Thân
Xem cho Cửu lưu thuật sĩ cần Quỹ động sinh Thân.
.Cửu lưu cầu Tài lấy Quan hào làm chủ, nếu xuất hiện mà động sinh hợp với Thế tất nhiên xứng ý, kị hình khắc với hào Thế.

29. 六 畜 血 財 尤 喜 福 興 持 世
Lục súc huyết Tài vưu hỷ Phúc hưng trì Thế
Lục súc khó kiếm tiền, nên có Phúc động trì Thế.
Phàm xem quẻ bán buôn lục súc nuôi dưỡngdeeuf cần Tử Tôn vượng tướng, trì Thế lâm Thân thì tốt. Phụ Mẫu phát động tất có thương tổn, hoá xuất Thổ Quỹ nên phòng ôn dịch mà chết. Phúc vượng Tài lâm Không, lục súc tuy tốt mà không có lợi.

30. 世 應 同 人 放 債 必 然 連 本 失
Thế Ứng đồng nhân, phóng trái tất nhiên liên bản thất
Thế Ứng cùng là Huynh Đệ, cho vay tất mất vốn.
Cho vay tối kị Thế Ứng đều là Huynh Đệ, tất khó đòi, Tài hào Tuyệt thì vốn cũng không còn. Thế Ứng lâm Không cũng thế.

31. 日 月 相 合 開 行 定 主 有 人 投
Nhật Nguyệt tương hợp, khai hàng định chủ hữu nhân đầu
Được Nhật Nguyệt hợp thì mở hàng chủ có người đến.
Người mở hàng xem về Tài, cần Thế Ứng đừng lâm Không, Tài Phúc cần trọn vẹn, Quan Quỷ cần hữu khí, Phụ Huynh cần suy tĩnh mới là thượng cát. Lại được Nhật Nguyệt, động hào sinh hợp với Thế, thì người xa gần tới lui cửa hàng, tài lợi đều thuận. Động hoá Quan Huynh thường thị phi khẩu thiệt. Ứng lâm Không chủ mở hàng không thành.

32. 應 落 空 亡 索 借 者 失 望
Ứng lạc Không vong sách tá giả thất vọng
Ứng lâm Không, đi vạy bị thất vọng.
Đi vay mượn không nên Ứng lâm Không, Không thì chẳng thực. Hào chỉ vật muốn vay mượn đừng Không thì thong thả cũng có hi vọng. Như vật là áo quần, kinh sách thì lấy hào Phụ Mẫu; lục súc, đồ uống rượu thì lấy Tử Tôn . Ngoài ra tiền bạc, thực phẩm đều lấy hào Tài.

33. 世 遭 刑 剋 賭 博 者 必 輸
Thế tao hình khắc, đổ bác giả tất thâu
Thế gặp hình khắc, đánh bạc tất thua.
Phàm xem đánh bạc cần Thế vượng, Ứng suy. Thế klhắc Ứng ta thắng, Ứng khắc Thế người tháng. Huynh Quỷ động hình khắc Thế hào, hoặc Thế lâm Huynh, lâm Khôngđều chủ không thắng. Thế Ứng tĩnh mà lâm Không, việc đánh bạc không thành. Thế ở Quan Quỷ, phong người âm mưu lường gạt ta. Gian hào động hoá Quan Quỷ, Huynh Đệ thì phần nhiều là đánh lộn.

34. 鬼 剋 身 爻 商 販 者 必 遭 盜 賊
Quỷ khắc Thân hào, thương phiến giả tất tao đạo tặc
Quỷ khắc hào Thân, bán buôn tất gặp giặc cướp.
Bán buôn kinh doanh nếu gặp Quan lâm Huyền Vũ, động khắc Thế tất gặp hoạ giặc cướp.

35. 間 興 害 世 置 貨 者 當 慮 他 人
Gian hưng hại Thế, trí hoá giả đương lự nha nhân
Gian hào động hại Thế, đưa hàng hoá cần lo người môi giới.
Bán hàng cần Ứng hào sinh hợp Thế hào, tất nhiên dễ thành; hình khắc Thế tất khó. Hào chỉ hàng hoá nhiều thì hàng hoá nhiều, hào này ít thì ít hàng hoá, Không phục thì không có hàng hoá. Hào chỉ hàng hoá như lục súc thì xem hào Phúc, ngũ cốc thì xem hào Tài chẳng hạn. Tối kị là Huynh Đệ động, phòng bị côn đồ cướp hoặc bị lường gạt. Huyn ở gian hào khắc Thế hào cần phong môi giới âm mưu cướp tiền bạc. Đi ra ngoài buôn bán gặp Ứng lâm Không thì chẳng thuận lợi.

36. 停 搨 者 喜 財 安 而 鬼 靜
Đình tháp giả, hỉ Tài an nhi Quỷ tĩnh
Cất hàng hoá, mừng được Tài yên mà Quỷ tĩnh.
Cất hàng hoá không nên Tài động, động tất có biến. Cũng không nên lâm Không sợ có thay đổi. Quan Quỷ động thì hoạ chẳng lường. Phụ Mẫu động hoá Quan Quỷ hình khắc Thế hào, bị mưa làm hư hàng hoá. Cho nên cất hàng hoá cần 6 hào an tĩnh, chỉ có Tử Tôn động là tốt.

37. 脫 貨 者 宜 財 動 而 身 興
Thoát hoá giả nghi Tài động nhi Thân hưng
Bán hàng thì cần Tài động mà Thân động.
Tài động tất chủ dễ bán. Nếu Tài ở ngoài động sinh Thế, cần đi xa bán hàng. Tài ở nội quái động sinh Thế thì bàn tại địa phương. Nếu Tài trì Thế mà Tử Tôn ở ngoại quái động, cũng nên đi nơi khác để bán hàng. Người đọc cần thông biến.

38. 路 上 有 官 休 出 外
Lộ thượng hữu Quan hưu xuất ngoại
Hào lộ trị Quann đừng ra ngoài.
Hào ngũ là lộ (đường) , lâm Quan phát động, giữa đường nhiều nguy hiểm, không nên ra ngoài. Muốn biết tai hoạ gì xem Lục thần để đoán. Như Bạch Hổ là sóng gió, Huyền Vũ là đạo tặc chảng hạn.

39. 宅 中 有 鬼 勿 居 家
Trạch trung hữu Quỷ vật cư gia
Hào trạch gặp Quỷ chớ nên ở nhà.
Hào nhị là hào trạch (nơi ở).Ở nhà cầu Tài, mà Quỷ ở hào này động thì bất lợi. Xem ngũ hành để đoán. Như Hoả Quỷ thì kị đèn đuốc chẳng hạn. Được Tử Tôn trì Thế phát động mới không bị hại. Nếu không có Tử Tôn động thì nên dời phố mới có thể giải được.

40. 內 外 無 財 伏 又 空 必 然 乏 本
Nội ngoại vô Tài, phục hựu Không, tất nhiên phạp bản
Nội ngoại quái không có hào Tài, Tài phục lại lâm Không tất thiếu vốn.
Nếu biến hào cũng không có hào Tài, hào Tài phục lại lâm Không, thì người dù muốn kinh doanh cũng thiếu vốn.

41. 父 兄 有 氣 財 歡 絕 莫 若 安 貧
Phụ Huynh hữu khí, Tài hoàn Tuyệt, mạc nhược an bần
Phụ hào, Huynh hào hữu khi, Tài hào lại Tuyệt, thì chẳng bằng nghèo mà an thân.
Hai hào Phụ, Huynh hữu khí, phòng bị hết vốn. Chẳng bằng an thân thủ phận.

生 計 多 端 占 法 不 一但 能 誠 敬 以 祈 求 自 可 預 知 其 得 失
Sinh kế đa đoan, chiêm pháp bất nhất đản năng thành kính dĩ kỳ cầu tự khả dự tri kỳ đắc thất.
Xem việc làm ăn rất rắc rối, phép xem không giống nhau, chỉ phải thành tâm để cầu mới có thể đoán trước được hay mất.

[1] Giải thích như thế này thì chẳng có gì lạ, chỉ diễn ý “ tham sinh vong khắc”(ham sinh mà quê khắc). Huynh động sinh Tử, Tử động sinh Tài mà thôi. Không nêu được sự thái quá của hào Huynh làm nó không thể khắc Tài.
[2] Thật ra với Quái thân thì chưa chắc đã nghiệm, chỉ ngại Huynh ở hào Thế, nhưng cũng còn phải xét suy vượng nữa.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 38

0

Chương 11

SĨ HOẠN

仕 宦

LÀM QUAN

(Tuvivietnam – siêu tầm)


1. 為 國 求 賢 治 民 為 本
置 身 輔 相 祿 養 為 先
旺 相 妻 財 必 得 千 鐘 之 粟
興 隆 官 鬼 定 居 一 品 之 尊
Vị quốc cầu hiền trị dân vi bản
Trí thân phụ tướng lộc dưỡng vi tiên.
Vượng tướng Thê Tài tất đắc thiên chung chi túc
Hưng long Quan Quỷ định cư nhất phẩm chi tôn
Vì nước cầu hiền là gốc việc trị dân
Đem thân làm quan lấy lộc làm đầu
Thê Tài vương tướng tất được gạo lúa ngàn chung
Quan Quỷ hưng vượng địa vị tôn quí nhất phẩm.
Mạt sĩ cầu danh thì không cần có hào Tài, quí nhân đã ra làm quan cần có hào Tài, vì có tước tất có lộc, chưa hề làm quan mà không có bổng lộc. Cho nên xem về quan chức được hào Tài vượng tướng tất bổng lộc nhiều. Nếu hào Tài hưu tù hoặc Không hoặc phục thì chưa có bổng lộc. Tài hào bị xung thì có sự cố mà giảm bổng. Nếu Nhật thần, Nguyệt kiến xung Tài, mà hình hại Thế hào, Quan hào e bị ngưng bổng giảm chức. Quan Quỷ vượng tướng chức cao tước lớn, hưu tù Tử Tuyệt thì chức nhỏ tước kém, nếu phát động sinh hợp Thế hào, được Nhật thần, Nguyệt kiến sinh phò tất được đề bạt.

2. 子 若 交 重 當 慮 剝 官 削 職
Tử nhược giao trùng, đương lự tước quan bác chức
Tử Tôn nếu động, phải lo bị tước quan cách chức.
Trong quẻ nếu Tử Tôn phát động, mưu cầu tất không toại lòng. Nếu đã có chức vụ e bị họa cách tước chức.

3. 兄 如 發 動 須 防 減 俸 除 糧
Huynh như phát động, tu phòng giảm bổng trừ lương.
Huynh Đệ nếu phát động, cần phòng cắt trừ lương bổng.
Huynh Đệ phát động, không tránh khỏi hao nhiều tiền của mà bị chê bai. Nếu Tử Tôn cùng động, hoặc Huynh Đệ hóa Tử Tôn, tất có việc giảm trừ lương bổng. Huynh trì Thân, lâm Thế đều bất lợi.

4. 父 母 空 亡 休 望 差 除 宣 敕
Phụ Mẫu Không vong, hưu vọng sai trừ tuyên sắc
Phụ Mẫu lâm Không, đừng mong có được sắc phong.
Hào Phụ Mẫu là ấn tín, văn thư, cáo mệnh, sắc phong, tấu thư, biểu chương , không thể thiếu ở trong quẻ. Hào Phụ cần vượng tướng, không nên suy. Nếu phò Thế là tốt nhất, như hữu khí trì Thái Tuế mà sinh hợp với hào Thế chủ có chiếu ban của triều đình. Nếu là Nguyệt kiến tất quan trên khen thưởng chẳng hạn… Nếu hào Phụ lâm Không thì đừng mong tưởng.

5. 官 爻 隱 伏 莫 思 爵 位 升 遷
Quan hào ẩn phục, mạc tư tước vị thăng thiên
Hào Quan ẩn phục, chớ mong tước vị thăng tiến.
Quan hào lâm trì Thế Thân, hoặc động sinh hợp hào Thế, không bị Nguyệt kiến, Nhật thần xung khắc, mọi điều mưu cầu có thể hợp ý.

6. 月 建 生 身 當 際 風 雲 之 會
Nguyệt kiến sinh Thân, đương tế phong vân chi hội
Tuế quân hợp Thế, tất thừa vũ lộ chi ân.
Nguyệt kiến sinh Thân, đang thời gặp hội rồng mây
Thái Tuế hợp Thế, tất hưởng ân mưa móc.
Thái Tuế tượng quân vương, Nguyệt kiến là quan cầm quyền. Nếu Thái Tuế, Nguyệt kiến sinh hợp Thế Thân, tất có điều tốt. Chỉ sợ xung khắc Thế Thân tất bị biếm trích . Nếu Nguyệt kiến sinh phò Quan hào, Thế hào tất có chức về pháp luật. Thái Tuế ở hào Phụ phò hào Quan hoặc hào Thế tất có ân vua, nếu Thế Quan sinh vượng càng tốt.

7. 世 動 逢 空 居 官 不 久
Thế động phùng Không, cư Quan bất cửu
Thế động lâm Không thì làm quan không lâu.
Nếu là quan tuần tra bên ngoài, Thế động lâm Không thì ngược lại là tốt cho mình. Gặp Nhật thân, động hào tương xung tất làm quan không lâu.
8.身 空 無 救 命 盡 當 危
Thân Không vô cứu, Mênh tận đương nguy
` Thân lâm Không mà không thế cứu giải, tất mệnh vận nguy hiểm.
Thế lâm Không mà không cứu giải được, không kể chức mới nhận hay nhận lâu rồi, cũng gặp đại nạn đến mất mệnh. Nếu xem mưu cầu chuyện gì thì sẽ không thành.

9. 鬼 化 福 冲 當 代 職
Quỷ hóa Phúc xung đương đại chức
Quỷ hóa Tử Tôn thì bị thay chức.
Qua tuần tra nên Quỷ động, quan điều hành nên Quỷ an tĩnh. Nếu Quan động hóa Tử tất có quan khác đến thay thế.

10. 財 臨 福 動 必 憂 丁
Tài lâm Phúc động tất ưu đinh
Tài lâm, Phúc động tất có tang chế.
Xem về việc quan không thể thiếu hào Tài, mà cũng không nên Tài động. Nếu Quan vô khí mà được Tài động phò khởi, tất nên dùng tiền mà mưu cầu quan chức, mới được thăng tiến. Nếu cha mẹ yếu mà gặp hào Tài này lâm Bạch Hổ, vượng động tất có tang cha mẹ.

11.日 辰 冲 剋 定 然 誹 謗 之 多 招
Nhật thần xung khắc, định nhiên phỉ báng chi đa chiêu
Nhật thần xung khắc tất bị chê bai nhiều.
Nhật thần hình xung khắc Thế, tất bị chê bai. Theo lục thân mà suy, như ở Huynh Đệ tất vì hối lộ hoặc bức bách thu thế; ở Thê Tài thì vì tiền thuế không thu được; ở Tử Tôn vì rượu chè mà bỏ bê việc quan; ở Phụ Mẫuvì việc quan nhiều không lo liệu hết; ở Quan Quỷ thì nếu không bị hình trượng, sẽ bị quan cùng triều không hợp tác. Nếu Thế ở Nguyệt kiến thì tuy bị chê bai cũng không có hại.

12. 鬼 煞 傷 身 因 見 災 殃 之 不 免
Quỷ sát thương Thân, nhân kiến tai ương chi bất miễn
Quỷ sát thương Thân, không khỏi bị tai ương.
Quan Quỷ động mà sinh hợp Thế là Dụng thần; động mà khắc thương hào Thế là Quỷ sát. Sinh phò hợp Thế là điềm tiến thủ; hình xung khắc Thế là hung họa.

13. 兄 爻 化 鬼 無 情 同 僚 不 協
Huynh hào hóa Quỷ vô tình, đồng liêu bất hiệp
Huynh hào hóa Quỷ mà vô tình thì quan đồng liêu không hợp sức.
Trong quẻ Quỷ động hóa xuất Huynh Đệ, xung khắc hào Thế chủ bất hòa với đồng liêu. Hoặc Huynh Đệ hình hại thương khắc Thế cũng như vậy. Thế khắc hào Huynh là ta xem thường người.

14. 太 歲 加 刑 不 順 貶 摘 難 逃
Thái Tuế gia hình bất thuận, biếm trích nan đào.
Thái Tuế có thêm hình mà không thuân, khó tránh bị cách chức đổi đi.
Thái Tuế động thương khắc Thế hào, tất bị biếm trích, lại gia thêm hình hại Xà Hổ tất bị nỗi nhục gôm cùm.

15. 卦 靜 世 空 退 休 之 兆
身 空 煞 動 避 禍 之 徵
Quái tĩnh, Thế Không thoái hưu chi triệu
Thân Không, Sát động Tỵ hoạ chi trưng
Quẻ tĩnh, Thế lâm Không là điềm lui về
Thân lâm Không, Sát lại động nên tránh hoạ.
Đã làm quan mà Thế hào lâm Không, nếu sáu hào an tĩnh, Nhật Nguệt, Thái Tuế thương khắc Thế là điềm về hưu. Nếu Quỷ động cùng Nhật Nguyệt , Thái Tuế thương khắc Thế hào, mà Thế hào lâm Không, tức cần tránh gấp khó tránh được hoạ.

16.身 邊 伏鬼若 非 空 頭 上 烏 紗 終 不 脫
Thân biên phục Quỷ nhược phi Không, đầu thượng ô sa chung bất thoát
Quỷ phục bên Thân nếu không lâm Không, thì cuối cùng không cỡi mũ ô sa trên đầu.
Được Quỷ hào lâm Thân trì Thế, hoặc Quỷ phục dưới hào Thế tuy bị trách phạt nhưng vẫn còn quan chức. Nếu Quan hào không lâm trì Thế thân, hoặc không phục dưới hào Thế, hoặc tuy phục dưới hào Thế nhưng lâm Không , tất bị cách chức.

17. 財 空 鬼 動 聲 名 震 而 囊 篋 空 虛
Tài Không, Quỷ động, thanh danh chấn nhi nang kiếp không hư
Tài lâm Không, Quỷ động, tiếng tăm vang dội mà túi thì rỗng không.
Phàm được Quan động sinh hợp hào Thế , Nhật Nguyệt, động hào lại không xung khắc thì làm quan có thanh danh , nếu được Tài haò sinh phò hợp trợ thì tuy bên trong tham lam hối lộ mà bên ngoài không mất danh. Nếu Thế hào Không phục, Tài hào Tử Tuyệt, tuy có thanh danh nhưng không ăn của hối lộ.

18. 官 旺 父 衰 職 任 高 而 衙 門 冷 落
Quan vượng Phụ suy, chức nhậm cao nhi nha môn lãnh lạc
Quan vượng, Phụ suy thì chức cao mà nơi làm việc quan thì vắng vẻ.
Hào Phụ vượng tất cửa quan to lớn, hưu tù thì cửa quan bé nhỏ. Nếu Quan vương Phụ suy thì chẳng phải chức nhỏ nhưng cửa quan an nhàn và vắng vẻ. Quan Phụ đều suy thì chức nhỏ mà cửa quan bé.

19.職 居 風 憲 皆 因 月 值 官 爻
Chức cư phong hiến giai nhân Nguyệt trị Quan hào
Giữ chức về phong hiến là do Nguyệt kiến trị ở hào Quan.
Quan Quỷ không lâm Nguyệt kiến thì chắc chắn không giữ chức vụ về phong hiến. Nếu lâm Nguyệt kiến lại phù trợ cho hào Thế, chắc chắn giữ chức vụ về phong hiến, mà không phải là quan ở huyện ở châu. Nếu có Bạch Hổ ở hào hình thế chủ trấn thủ ở biên thuỳ, nắm giữ binh quyền.

20. 官 在 二 司 只 為 鬼 臨 傍 位
Quan tại nhị ti, chỉ vi Quỷ lâm bàng vị
Quan ở cơ quan nhỏ chỉ vì Quỷ ở bàng hào.
Quan ở Tí Ngọ Mão Dậu là quan chính ấn. Quan ở Dần Thân Tỵ Hợi là chức quan phụ tá. Quan ở Thìn Tuất Sửu Mùi là quan tạp chức. Nếu lâm ở Nhật thần Nguyệt kiến là quan nắm ấn.

21. 撫 綏 百 性 兄 動 則 難 化 愚 頑
Phủ tuy bách tính, Huynh động tắc nan hoá ngu ngoan
Quan cai trị vỗ về dân chúng nếu có Huynh động thì khó giáo hoá vì ngu muội.
Phàm quan chăn dân thì cần Tài hào vượng mà bất động, Phụ Mẫu phù trợ mà chẳng Không thì mới tốt. Nếu Tài hào Không Tuyệt, Phụ hào bị Hình thì đất đai khô cằn dân nghèo hèn. Phụ Mẫu động lâm Thế việc chính sự quá bề bộn. Huynh Đệ trì Thế thì tiền bạc không vượng, hoặc dân nghèo khó trị.

22. 巡 察 四 方 路 空 則 多 憂 驚 怪
Tuần sát tứ phương, lộ Không tắc đa ưu kinh quái
Quan đi tuần sát bốn phương, hào lộ gặp Không vong thì nhiều âu lo kinh sợ.
Quan khâm sai đi tuần sợ Thế hào gặp Không. Nếu Thế ở hào ngũ lâm Không, sợ bị Nhật Nguyệt hình khắc, e bị hoạ hại tai ách giữa đường.

23. 出 征 剿 捕 福 德興 而 寇 賊 殲 亡
Xuất chinh tiểu bổ, Phúc Đức hưng nhi khấu tặc tiêm vong
Đem quân đánh dẹp, Phúc Đức vượng thì giặc bị tiêu diệt.
Phàm nhận chức tướng soái, hoặc quan võ đi đánh giặc, bình thường bói không nên Tử Tôn phát động vì sẽ bị giáng chức đổi di. Nếu như gặp việc mà bói thì mừng được Tử Tôn phát động, tất tiễu trừ giặc có công lớn. Thế khắc Ứng cũng tốt

24. 鎮 守 邊 陲 卦 爻 靜 而 華 夷 安 泰
Trấn thủ biên thùy, quái hào tĩnh nhi Hoa di an thái
Giữ gìn biên thùy, hào trong quẻ an tĩnh thì định yên các rợ.
Không kể quan chức văn hay võ trấn thủ ở địa phương đều nên sáu hào an tĩnh, không bị Nhật Nguyệt xung khắc thì yên ổn không lo. Nếu gặp Quan Quỷ phát động, Thế Ứng xung khắc tất bị quấy phá. Cần biến hóa mà suy ra.

25.奏 陳 諫 諍 那 堪 太 歲 肱 刑
Tấu trần gián tránh, na kham Thái Tuế xung hình
Tâu trình can gián nào chịu được Thái Tuế hình xung.
Phàm gặp việc dâng sớ tâu trình, can gián cùng diện kiến vua, đều kị bị động hào xung khắc, cùng kị Thái Tuế hình khắc hào Thế> Nếu được thái Tuế, Nguyệt kiến sinh hợp với Thế hào tất được chấp thuận. Nếu xung khắc cần phòng tai họa bất trắc.

26. 僧 道 醫 官 豈 可 文 書 發 動
Tăng đạo y quan, khởi khả Văn thư phát động ?
Với tăng đạo, thầy thuốc há Văn thư có thể động sao ?
Với tăng đạo, quan ngự y đều lấy Tử Tôn làm Dụng thần. Nếu Phụ động tất khắc tăng đạo y quan, dùng thuốc không linh nghiệm mà trái lại kết quả không tốt, nếu bị khắc xung cần phòng thị phi.
但 隨 職 分 之 推 詳
可 識 仕 途 之 否 泰
Đản tùy chức phận chi suy tường
Khả thức sĩ đồ chi bỉ thái
Nhưng tùy theo chức phận mà suy rõ
là có thể biết hung cát trên đường làm quan.

[1] Tức những loại văn thư ngày: Tấu thư là sớ tâu lên vua, cáo mệnh là “lệnh vua ban “, sắc phong là “giấy phong chức hàm”, biểu chương là “văn thư dâng lên”
[2] Cách chức đổi đi
[3] Chỉ chức vụ coi về phép tắc, về giáo hoá dân chúng.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 37

0

12. 父 官 三 合 相 逢 連 科 及 第
Phụ Quan tam hợp tương phùng, liên khoa cập đệ

(Tuvivietnam – siêu tầm)
Tam hợp với Phụ và Quan, đậu đạt liên tiếp.
Trong quẻ tam hợp thành Quan cục, tất chủ đậu liên khoa; hợp thành Phụ cục cũng tốt.
13. 龍 虎 二 爻 俱 動 一 舉 成 名
Long Hổ nhị hào câu động, nhất cử thành danh
Hai hào Long 、Hổ đều động, một lần thi đã thành danh.
Thanh Long 、 Bạch Hổ đều ở trong quẻ, động sinh hợp hào Thế, tất đậu thủ khoa. Nếu ở Quan, Phụ hoặc Thế thân cũng tốt.

14.殺 化 生 身之 鬼 恐 發 青 衣
Sát hóa sinh Thân chi Quỷ, khủng phát thanh y
Sát hóa Quỷ sinh Thế, e rằng chỉ đạt được học sinh.
Lấy Tử Tôn làm Sát, vượng phát động tất bị loại. Nếu Tử Tôn hóa Quỷ hào sinh Thế, cuối cùng chẳng thoát được nghèo hèn, chẳng qua chỉ đạt đến bậc học sinh mà thôi. Quẻ có Tài động hợp với Tử Tôn, có thể dùng tiền mà mưu cầu chức vụ cũ[1].

15.歲 加 有 氣 之 官 終 登 黃 甲
Tuế gia hữu khí chi Quan, chung đăng hoàng giáp
Thái Tuế lại thêm khí lực cho Quan Quỷ, cuối cùng cũng đậu đạt.
Rất cần được hào Thái Tuế hữu tình. Nếu Thái Tuế lâm Quan Quỷ, là tượng bề tôi diện kiến quân vương, nên được sinh vượng, hữu khí, tất nêu cao danh tính.

16. 病 阻 試 期 無 故 空 臨 于 世 位
Bệnh trở thí kỳ vô cố, Không lâm vu Thế vị
Bệnh bất ngờ ngăn cản không thi được vì hào Thế lâm Không.
Động hào, Nhật thần đến thương khắc Thế mà Thế lại lạc Không vong là ượng đại hung. Xem trước khi thi thì đi cũng không thành, miễn cưỡng mà đi cuối cùng bất lợi.

17. 喜 添 場 屋 有 情 龍 合 于 身 爻
Hỉ thiêm trường ốc hữu tình, Long hợp vu Thân hào
Mừng được hữu tình về việc thi cử là do Long hợp với hào Thế.
Nếu quẻ có đại tượng tốt, lại được Long động sinh hợp Thế thân, không những chỉ danh thành mà có nỗi mừng riêng. Nếu lâm Không động tất đợi ngày tháng xuất Không sẽ thấy vui mừng.

18.財 伏 逢 空 行 糧 必 乏
Tài phục phùng Không, hành lương tất phạp
Tài hào phục mà lâm Không, thiếu lương ăn trên đường đi.
Trong 6 hào của quẻ không có hào Tài, Rài phục mà lại lâm Không tất thiếu lương ăn đi đường.

19. 身 興 變 鬼 來 試 方 成
Thân hưng biến Quỷ, lai thí phương thành
Thế động hóa Quỷ, đi thi tất đạt.
Quẻ có mòi không thành, nhưng được Thế hào động hóa Quỷ hữu khí mà Phụ Mẫu không bị chế, thì có thể đậu được.

20. 卦 值 六 冲 此 去 難 題 雁 塔
爻 逢 六 合 這 回 必 占 鼇 頭
Quái trị Lục xung, thử khứ nan đề nhạn tháp
Hào phùng Lục hợp, giá hồi tất chiếm ngao đầu.
Gặp quẻ Lục xung, lần đi này khó đậu được
Gặp quẻ Lục hợp, lần này tức đậu đầu.
Xem công danh gặp quẻ Lục xung tất khó thành, được quẻ Lục hợp tất dễ đậu.

21.父 旺 官 衰 可 惜 劉 蕢 之 下 第
父 衰 官 旺 堪 嗟 張 爽 之 登 科
Phụ vượng Quan suy, khả tích Lưu Quĩ chi hạ đệ
Phụ suy Quan vượng, kham ta Trương Sảng chi đăng khoa
Phụ vương Quan suy, Lưu Quí hỏng thật đáng tiếc
Phụ suy Quan vượng, , than ôi Trương Sảng lại đậu.
Phụ Mẫu , Quan Quỷ nên hữu lực, chớ bị chế thì công danh có thể thành. Nếu Phụ Mẫu vương tướng mà Quan Quỷ lâm Không hoặc không hiện trên quẻ, bài làm tốt mà không được đậu, như Lưu Quí văn chương xuất sắc mà không đậu được. Nếu hào Phụ suy nhược, được hào Quan vượng động phù khởi Văn thư thì văn chương tuy bình thường nhưng có thể thành danh, như Trương Sảng văn chương không xuất sắc mà đậu cao.

22.應 合 日 生 必 資 鶚 荐
動 傷 日 剋 還 守 雞 窗
Ứng hợp Nhật sinh tất tư ngạt tiến,
Động thương Nhật khắc hoàn thủ kê song
Hào Ứng hợp, Nhật thần sinh tất được tiến cử
Hào động thương, Nhật thần khắc vẫn còn phải học.
Phụ Quan hóa Tuyệt, danh tất khó thành. Nếu hào Ứng, động hào hoặc Nguyệt kiến, Nhật thần phù khởi Quan Quỷ, tất phải có người tiến cử, hoặc dùng tiền của cầu danh tất được.

23. 世 動 化 空 用 旺 則 豹 變 翻 成 蝴 蝶
Thế động hóa Không, Dụng vượng tắc báo biến phiên thành hồ điệp
Thế động hóa Không, Dụng thần vượng thì hiển danh trở thành mộng ảo.
Nếu đựợc quẻ sẽ đậu đạt, nhưng Thế hào động nhập Mộ Tuyệt, sợ sau khi thành danh không được hưởng phước. Gặp quẻ Du hồn thì chết dọc đường, Qui hồn thì đến nhà mới chết, hào Mộ Tuyệt là Thái Tuế thì qua năm mới chết.

24.身 官 化 鬼 月 扶 則 鵬 程 連 步 蟾 宮
Thân Quan hóa Quỷ, Nguyệt phù, tắc bằng trình liên bộ thiềm cung
Thân ở Quan hóa Quỷ được Nguyệt kiến phò, tắc đường công danh đạt đến cung trăng.
Quái Thân là sự thể, nên hợp với công danh,sợ lâm Tài Phúc. Nếu Quan hào ở đấy thì có danh vọng, lại nếu phát động hóa Quan mà được Nguyệt kiến sinh hợp, tất chủ đậu đạt liên tiếp.

25. 更 詳 本 主 之 爻 神 方 論 其 人 之 命 運
Cánh tường bản chủ chi hào thần, phương luận kỳ nhân chi mệnh vận
Lại phải rõ hào bản chủ, mới luận được mệnh vận của người xem)
Bản chủ là hào chủ của người xem. Tự xem thì lấy hào Thế mà luận, xem cho con thì xem hào Tử Tôn chẳng hạn. Hào chủ này sợ bị khắc chế, và hung xấu. Tùy hào này mà hung cát sẽ ứng.

雖 賦 數 言 總 論 窮 通 之 得 失
再 將 八 卦 重 推 致 用 之 吉 凶
Tuy phú sổ ngôn, tổng luận cùng thông chi đắc thất
Tái tương bát quái, trùng suy chí dụng chi cát hung
Tuy vài câu phú mà luận chung cùng thông đắc thất[2]
Lại đem bát quái , suy thêm xem hung hay cát.

[1] Ngày trước quan lại muốn đi thi phải xin thôi chức, nếu hỏng lại không cho giữ chức vụ cũ nữa, vì cho rằng kém mà đi thi cầu may.

[2] Có nghĩa thông suốt, bế tắc và được mất.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 36

0

Chương 10

CẦU DANH

求 名

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Xem công danh

讀 書 五 車 故 欲 置 身 于 l廊 廟
胸 藏 萬 卷肯 甘 遁 跡 于 丘 園
要 將 國 家 當 詳 易 卦
父 爻 旺 相 其 文 擲 地 金 聲
鬼 位 興 隆 家 報 泥 金 捷 喜
Độc thư ngũ xa, cố dục trí thân vu lang miếu
Hung tàng vạn quyển, khẳng cam độn tích vu khâu viên
Yếu tướng quốc gia – Đương tường Dịch quái
Phụ hào vượng tướng, kỳ văn trịch địa kim thanh
Quỷ vị hưng long, gia báo nê kim tiệp hỉ.
Sách đọc năm xe, nên muốn dấn thân vào lang miếu
Lòng thông vạn cuốn, sao lại cam chịu ở ruộng vườn.
Muốn giúp nước nhà – Cần rành quẻ Dịch
Phụ hào vượng tướng, nổi tiếng văn chương
Quỷ hào hưng long, tin mừng đậu đạt.
Phàm xem công danh, lấy hào Phụ làm văn chương, Quỷ làm quan chức. Hai hào này là chủ trong quẻ, một hào bị thương thì không thành.Nếu hào Phụ vượng tướng, văn chương tất hay; hào Quan đắc địa, công danh có cơ hội. “Nê kim báo hỉ” nói chung là có nghĩa “đề danh ở bảng vàng, công thành danh tựu. Chẳng phải lấy Quỷ làm tin tức đến, người học nên biết rõ.

1.財 若 交 重 休 望 青 錢 之 中 選

福 如 發 動 難 期 金 榜 之 題 名

Tài nhược giao trùng, hưu vọng thanh tiền chi trúng tuyển

Phúc như phát động, nan kỳ kim bảng chi đề danh.
Tài nếu giao trùng, đừng mong có tiền mà trúng tuyển,
Phúc nếu phát động, khó có lcú đề danh bảng vàng.
2. 兄 弟 同 經 乃 奪 標 之 惡 客

Huynh Đệ đồng kinh, nãi đoạt tiêu chi ác khách

Huynh Đệ cùng hàng là đoạt ác khách đoạt đích của ta.
Cùng loại với ta là Huynh Đệ, cầu danh mà gặp là người cùng đi với ta. Nếu Huynh Đẹ phát động, hoặc Nguyệt kiến, Nhật thần đều là Huynh Đệ, tất người đồng hành quá đông, thì có thể đoạt đích dến của ta. Nếu đại tượng có thể thành tựu, thì danh cũng tụt hậu.
3. 日 辰 輔 德 實 勸 駕 之 良 朋

Nhật thần phụ đức, thực khuyến giá chi lương bằng

Nhật thần phụ đức, tất có bạn tốt trợ giúp.
Nếu Phụ Mẫu, Quan Quỷ vô khí, lại được Nhật thần phò khởi[1] chủ có bạn hữu trợ giúp của cải, phí tổn trên đường cầu danh của mình.

4.兩 用 相 冲 題 目 生 疏 而 不 熟
Lưỡng Dụng tương xung, đề mục sinh sơ nhi bất thục
Hai Dụng bị xung, đề bài đơn sơ mà không thuộc.
Lấy hào Quan làm Dụng thần, thích hợp mà không thích bị xung. Nếu bị hào Quan xung, chủ đề ra trúc trắc, nên không thuộc.

5. 六 爻 兢 發 功 名 恍 惚 以 難 成
Lục hào cạnh phát, công danh hoảng hốt dĩ nan thành
Sáu hào đều động, công danh mờ mịt khó thành tựu.
Sáu hào đều thích an tĩnh, chỉ cần Phụ Mẫu, Quan Quỷ hữu khí đừng lâm Không. Nguyệt kiến, Nhật thần đừng thương khắc Quan, Phụ, thì tốt. Phàm động tắc biến, hào biến cũng có thể Mộ Tuyệt Không, hoặc hình khắc, tất là xấu. Cho nên gặp quẻ loạn động, có thể biết đại khái là không tốt.

5.月 剋 文 書 程 式 背 而 不 中
Nguyệt khắc Văn thư, trình thức bối nhi bất trúng.
Nguyệt kiến khắc Văn thư, bài làm trái thể thức không trúng với thầy .
Phụ vượng mà được động hào, Nhật thần sinh hợp, bài văn gấm hoa từng chữ một. Bị Thê Tài thương khắc, tất bài làm nhiều sơ hở. Nguyệt kiến xung khắc tất bài làm không đúng thể thức của quan trường.

6.世 傷 官 鬼 仕 途 窒 而 不 通
Thế thương Quan Quỷ, sĩ đồ trất nhi bất thông
Thế thương khắc Quan Quỷ, thì hoạn lộ trắc trở không thông.
Thế là kẻ cầu danh, nếu trì Quan Quỷ hoặc được Quan Quỷ sinh hợp, công danh có triển vọng.Nếu lâm Tử Tôn, tất khắc chế Quan Quỷ thì quan lộ không thông, mưu cầu cũng không được.

7. 妻 財 助 鬼 ơ父 爻 空 可 圖 僥 倖
Thê Tài trợ Quỷ, Phụ hào Không, khả đồ kiểu hãnh
Thê Tài giúp Quan Quỷ, Phụ hào lâm Không, mưu cầu nhờ may mắn.
Phụ Mẫu lâm Không, nếu được hào Tài phát động sinh phò Quan Quỷ, do may mắn mà được. Nếu cả Tài Quan đều động mà hào Phụ lâm Không, thì ngược lại không tốt, hào Phụ bất Không mới hi vọng.

8.福 德 變 官 身 位 合 亦 忝 科 名
Phúc Đức biến Quan, Thân vị hợp, diệc thiểm khoa danh
Phúc Đức biến Quan Quỷ hợp với Thế, cũng được công danh kém.
Chánh quái không có Quan Quỷ, nếu được Tử Tôn biến thành Quan Quỷ mà sinh hợp với hào Thế mà hào Phụ có khí, công danh cũng có hi vọng, nhưng không thể đậu cao.

9. 出 現 無 情 難 遂 青 雲 之 志
Xuất hiện vô tình, nan toại thanh vân chi chí
Xuất hiện mà vô tình thì cũng khó đạt chí thanh vân[2].
Trong quẻ nếu hào Quan không lâm trì Thế thân, ngược lại đi lâm hào khác, hoặc phát động mà đi sinh hào khác, không sinh hợp Thế thân, hoặc bị Phá 、 Mộ 、Tuyệt đều gọi là xuất hiện vô tình, tuy có trong quẻ mà đối với ta cũng vô ích, nên khó đạt được chí cao của ta.

10.伏 藏 有 用 終 辭 白 屋
Phục tàng hữu dụng, chung từ bạch ốc chi nhân
Phục tàng mà hữu dụng, cuối cùng cũng từ giả cảnh nghèo hèn.
Quan Quỷ không xuất hiện, nhưng xem phục tại hào nào, nếu hào Quan này hữu dụng thì chờ đến gặp đúng năm thì sẽ từ giả cảnh nghèo hèn.

11.月 建 剋 身 當 被 責
財 如 生 世 必 幫 糧
Nguyệt kiến khắc Thân đương bị trách,
Tài như sinh Thế tất bang lương.
Nguyệt kiến khắc Thế bị trách phạt,
Tài hào sinh Thế được giúp lương.
Nguyệt kiến nếu khắc hào Thế mà hào Quan thất thời, tất bị trách phạt. Trong quẻ hào Quan trì Thế mà hào Tài phát động sinh hợp hào Thế, tất mừng được trợ giúp lương tiền.

[1] Tức Nhật thần sinh làm cho vượng động được.

[2] Thanh vân có nghĩa “đạt đến địa vị cao”

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 35

0
71. 龍 父 扶 身 效 藏 燈 於 祖 瑩
Long Phụ phù Thân hiệu táng đăng ư Tổ Oánh
(Tuvivietnam – siêu tầm)
Thanh Long ở Phụ phò Thân bắt chước Tổ Oánh giấu đèn.
Thanh Long là cát thần, Phụ Mẫu là thi thơ, là nơi học. Nếu đều lâm Thân, hoặc sinh hợp Thế Thân hoặc Phúc Đức đều chủ đứa bé hiếu học, như Tổ Oánh tám tuổi ham đọc sách, cha mẹ sợ thành bệnh nên cấm đọc, nên bí mật giấu đèn, đợi cha mẹ ngủ rồi thắp lên mà đọc.

72. 歲 君 值 福 希 投 筆 於 班 超
Tuế Quân trị Phúc hy đầu bút ư Ban Siêu
Tuế Quân ở Phúc, hiếm người ném bút như Ban Siêu
Thái Tuế tượng cho vua. Tử Tôn lâm ở đấy tất có chí lớn, như Ban Siêu đời Hán thuở nhỏ thường ném bút than rằng:” Đại trượng phu phải lập chí dựng nước,sao lại đắm mình trong nghiên bút”. Sau đi sứ Tây Vực được phong là Vạn Lý Hầu.73. 官 鬼 無 傷曹 彬 取 印 終 封 爵
Quan Quỷ vô thương Tào Bân thủ ấn chung phong tước
Quan Quỷ không bị thương khắc, Tào Bân giữ ấn mà sau được phong tước.
Thái Tuế ở Phúc Đức là có chí lơn, nhưng Quan Quỷ bị khắc chế, hoặc lâm Không thì tuy chí lớn nhưng rốy cục chẳng toại ý, Quan Quỷ không bị thương khắc tất sẽ vừa lòng, như Tào Bân lúc đầy tuổi cầm dáo nắm ấn mà về sãuuất tướng nhập tướng được phong tước cao.

74. 父 身 有 氣 車 胤 囊 螢 卒 顯 名
Phụ Thân hữu khí Xa Dận nang huỳnh tốt hiển danh
Phụ và Thân hữu khí như Xa Dận chứa đom đóm trong túi rồi sau hiển danh
Thanh Long, Phụ Mẫu trì Thân thì biết hiếu học, nhưng Thân Thế, Dụng thần cùng Quan, Phụlâm Mộ Tuyệt phải vất vả mới hi vọng thành tựu, như Xa Dận chăm học mà cuối cùng dựng được sự nghiệp.

75. 金 爻 動 合 啼 必 無 聲
Kim hào động hợp đề tất vô thanh
Hào Kim động hợp thì khóc không ra tiếng
Trong Ngũ hành chỉ có Kim là có âm thanh, trong ngũ tạng chí có phổi là có âm thanh. Cho nênlấy hào Kim làm thanh âm của người. Kim hoặc xung hoặc Không thì âm thanh vang dội, như động bị hợp thì khóc không thành tiếng.

76. 父 母靜 冲 兒 須 缺 乳
Phụ Mẫu tĩnh xung nhi tu khuyết nhũ
Phụ Mẫu tĩnh bị xung mà trẻ thiếu sữa.
Nếu Tử Tôn vượng tướng sữa tất nhiều, hưu tù Không phá sữa tất ít. Sợ nhất là Phụ động hoặc tĩnh mà bị xung, nếu không thiếu sữa tất sẽ khắc Tử Tôn.

77. 用 旺 兒 肥 終 易 養
主 衰 兒 弱 必 難 為
Dụng vượng nhi phì chung dị dưỡng
Chủ suy nhi nhược tất nan vi.
Dụng vượng con mập mà nuôi dễ
Chủ suy con yếu mà khó nuôi.
Tử Tôn vượng tướng không bị thương khắc, con mập dễ nôi. Tử Tôn hưu tù bị khắc nhiều gầy yếu khó nuôi.

78. 身 臨 父 母 莫 逃 鞠 養 之 辛 勤
Thân lâm Phụ Mẫu mạc đào cúc dưỡng chi tân cần
Thân ở Phụ Mẫu khó tránh được săn sóc chu đáo.
Phụ Mẫu trì Thế, trẻ nhiều tai ách nên khó tránh nuôi dưỡng vất vả, vì Phụ Mẫu là thần chăm lo vất vả, là ác sát của tiểu nhi.

79. 世 遇 子 孫 終 見 劬 勞 之 報 效
Thế ngộ Tử Tôn chung kiến cù lao chi báo hiệu
Thế gặp Tử Tôn cuối cùng báo đáp ân cù lao.
Tử Tôn trì Thế, con tất hiếu thuận, sẽ báo đáp ơn nuôi dưỡng. Vốn Tử Tôn trì Thế có nghĩa gần gũi cha mẹ.

80. 若 問 榮 枯 全 在 六 親之 决 斷
要 知 壽 夭 必 須 另 卜 以 推 詳
Nhược vấn vinh khô toán tại Lục Thân chi quyết đoán
Yếu tri thọ yểu tất tu lánh bốc dĩ suy tường
Nếu hỏi thịnh suy quyết đoán ở tại Lục Thân
Cần biết thọ yếu nên bói riêng để suy rõ.
Sáu hào của một quẻ quản sự thịnh suy được mất, dùng Tài, Quan, Phụ, Tử, Huynh để quyết đoán. Còn xem thọ yểu nên bói riêng một quẻ.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 34

0

61. 胎 連 官 鬼 曾 經 落 地 之 關
Thai liên Quan Quỷ , tằng kinh lạc địa chi quan

(Tuvivietnam – siêu tầm)

(Tuvivietnam – siêu tầm)
Thai liên hệ đến Quan Quỷ là từng chết đi sống lại.
Hào Thai của Tử Tôn lâm Quan Quỷ, hoặc hoá ra hàô Quỷ, hoặc bị Quỷ xung khắc, thì khi lâm bồn chết đi sống lại, tục gọi “lạc địa quan”.

62. 子 帶 貴 人 自 有 登 天 之 日
Tử đới Quí Nhân, tự hữu đăng thiên chi nhật
Tử Tôn có Quí Nhân , tất có ngày lên trời.

Tử Tôn nếu có Lộc Mã, Quí Nhân , chủ đứa con này ngày sau quí hiển

63. 遇 令 星 如 風 搖 幹
逢 絕 地 似 雨 傾 花
Ngộ lệnh tinh như phong dao cán
Phùng Tuyệt địa tự vũ khuynh hoa
Gặp lệnh tinh như gió lay cành
Gặp tuyệt địa như mưa làm hoa đổ.
Phàm Phụ Mẫu động khắc Tử, nếu được Tử Tôn trị Nhật thần, Nguyệt kiến, tuy có hơi xấu, như gió nhẹ lay cành, không có hại. Nếu gặp Mộ Tuyệt lại bị khắc, như mưa to làm hoa rơi rụng, có hại.

64. 子 孫 化 鬼 孝 殤 十 月入 明 途
祿 貴 臨 爻 拜 住 童 年 登 相 位
Tử Tôn hoá Quỷ, Hiếu thương thập nguyệt nhập minh đồ
Lộc Quí lâm hào, Bái Trụ đồng niên đăng tướng vị.
Tử Tôn hoá Quỷ, Hiếu Thương 10 tháng đã chết – Lộc Quí lâm Tử, Bái Trụ tuổi nhỏ đã làm tướng)
Tử Tôn hưu tù hoá Quỷ, hoá Phụ đều là điềm chết, giống như Hán Thương đế sinh 10 tháng thì chết. Nếu Tử lâm Quí Nhân, Lộc Mã vương tướng như Bái Trụ đời Nguyên năm 14 tuổi đã làm tướng.

65. 凶 煞 未 攢 震 卦 李 令 伯 至 九 歲 而 能 行
Hung sát vị toàn Chấn quái Lý Lệnh Bá chí cửu tuế nhi năng hành.
Hung sát chưa phá quẻ Chấn, Lý Lệnh Bá đến chín tuổi mới đi được
Quẻ Chấn là chân, gặp Quan Quỷ, hung thần khắc hại đi lại tất chậm, như Lý Nguỵ Công chín tuổi mới đi được, đó là vì hung thần vây lấy chân.

66. 吉 神 皆 聚 乾 宮 白 居 易 未 週 年 而 識 字
Cát thần giai tụ Càn cung, Bạch Cư Dị vị chu niên nhi thức tự
Cát thần đều tụ ở cung Càn,Bạch Cư Dị chưa đầy năm đã biết chữ
Càn là qquẻ đầu Bát quái, thuộc Kim, thuần dương, số 1, dương chủ ở trên, Kim chủ thông minh , 1 là soos khởi đầu. Nếu gặp Long Đức cùng Tử Tôn tại cung này tất nhiên nhỏ mà thông minh như Bạch Lạc thiên sinh ra vừa bảy tháng đã biết hai chữ 之 Chi, 無 Vô

67. 八 純 頑 劣 晉食 我 狼 子 野 心
Bát Thuần ngoạn liệt, Tấn Thực Ngã lang tử dã tâm
Bát thuần ương ngạnh như Thực Ngã đời Tấn lòng lang dạ sói

Quẻ Bát thuần sáu hào tương xung, tiểu nhi gặp tất chủ bướng bỉnh, tính hung hãn như Thực Ngã đời Tấn lòng dạ ác độc như giống sài lang.

68. 六 合 聰 明 唐 李 白 錦 心 繡 口
Lục hợp thông minh Đường Lý Bạch cẩm tâm tú khẩu
Quẻ Lục hợp thông minh như Lý Bạch đời Đường nhả ngọc phun châu.
Đại để quẻ Lục hợp tất nửa âm nửa dương, trẻ con gặp được, trí tuệ thông minh, ngày sau văn chương quán thế, như Lý Thái Bạch có tài văn thơ.

69. 陽 象 陽 宮 后 稷 所 以 岐 嶷
Dương tượng dương cung Hậu Tắc sở dĩ kỳ nghi.
Cung dương hào dương như Hậu Tắc nhỏ mà thông minh
Dương tượng cao minh thông đạt. Tử Tôn lâm hào dương cung dương như Hậu Tắc con của bà Khương Nguyên thông minh dĩnh ngộ.

70. 陰 卦 陰 爻 晉 惠 所 以 戇 駿
Quái âm âm hào Tấn Huệ sở dĩ tráng tuấn
Quẻ âm hào âm nên Tấn Huệ ngu si.
Âm chủ thấp kém, tượng giáng xuống. Tử Tôn ở âm cung âm hào chủ ngu si, như Tấn Huệ Đế nghe tiếng ếch bảo là “công hồ tư hồ” , thấy người đói chết bảo :sao không ăn thịt nai”. Cho nên sử sácg chê là ngu si.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 33

0

51. 合 而 遇 空 竇 二 女 不 辱 于 盜 賊
Hợp nhi ngộ Không, Đậu nhị nữ bất nhục vu đạo tặc

(Tuvivietnam – siêu tầm)
Hợp mà gặp Không, hai con gái họ Đậu không để đạo tặc làm nhục.
Nếu hào khác đến hợp, hoặc Huyền Vũ, Hàm Trì động đến khắc hợp, nếu Tài hào lâm Không, như niên hiệu Phung Thiên đời Đường, hai con gí họ Đậu bị cướp bắt đi, nhảy núi chịu chết để khỏi mang nhục.

52. 靜 而 冲 動 卓 文 君 投 奔 于 相 如
Tĩnh nhi xung động, Trác Văn Quân đầu bôn vu Tương Như
Tĩnh mà được xung động, Trác Văn Quân bỏ trốn theo Tương Như.
Hàm Trì, Huyền Vũ trì Tài, nếu Tài suy, lâm Không, bất động thì chẳng ngại. Nếu Nhật Nguyệt động hào xung, thì như Tương Như lấy tiếng đàn khiêu động , làm ban đêm Trác Văn Quân bỏ trốn đi theo, về sau làmnghề bán rượu.

53. 福 引 刑 爻 發 動 衛 共 姜 作 誓 於 柏 舟
Phúc dẫn hình hào phát động, Vệ Cọng Khương tác thệ vu Bá Chu.
Phúc động mà hình, Vệ Cọng Khương làm thơ Bá Chu[1] để thề.
Tử Tôn vượng động chủ khắc phu, như Tử là thần trinh khiết, tượng thủ tiết, như Vệ Cọng Khương là thơ Bá Chu lấy chết mà thề.

54. 身 遭 化 鬼 剋 刑 班 婕 妤 感 傷 于 秋 扇
Thân tao hoá Quỷ khắc hình, Ban Tiệp Dư cảm thương vu thu phiến
Thân hoá Quan Quỷ khắc hình, Ban Tiệp dư cảm thương chiếc quạt vào mùa thu.
Nếu gặp quẻ lục hợp mà Thế hào hoá Quan Quỷ hình khắc, lấy hào động làm khởi đầu, hào biến làm kết cục. Như đời Hán, Ban Cơ ban đàu được Thành Đế yêu thương gần gũi mà về sau lơ là, nên thấy chiếc quạt vào mùa thu mà thương cảm, nên làm từ để tỏ ý thê lương.

55. 弭 鬼 爭 權 水 父 冲 錢 玉 蓮 逢 汝 權 于 江 滸
Nhị Quỷ tranh quyền, thuỷ Phụ xung, Tiền Ngọc Liên phùng Nhữ Quyền vu giang hử
Hai hào Quỷ tranh quyền bị Phụ thuỷ xung, Tiền Ngọc Liên gặp Nhữ Quyền trên bến nước.
Nếu có hai hào Quỷ cùng phát động đến sinh hợp hào Tài, lại gặp hào Phụ thuộc Thuỷ đến xung, mà hào Tài lại lâm Không, tất chủ có hai chồng tranh quyền, bị Phụ mẫu bức bách mà tự giữ tiết tháo nên nhập Không vong, như Tôn Nhữ Quyền gặp Tiền Ngọc Liên vậy.

56. 六 爻 兢 合 陰 财 動 秦 若 籣 遇 陶 穀 於 郵 亭
Lục hào cạnh hợp, âm Tài động, Tần Nhược Lan ngộ Đào Cốc ư bưu đình
Lục hào tranh nhau hợp, Tài hào âm mà động, Tần Nhược Lan gặp Đào Cốc ở bưu đình.
Nam có hợp thì thông minh tuấn tú, nữ có hợp thì trôi nổi dâm dật, nếu quẻ Lục hợp mà hào Tài thuộc âm, bất động thì còn được,động thì dâm đãng vô liêm sỉ, như Tần Nhược Lan gặp Đào học sĩ vậy. Nếu hào Tài tương hợp với Thế, không đoán như thế, Nữ nhân tự bói, lấy Thế làm mình mà hợp với hào khác cũng đoán như vậy.

57. 鬼 弱 而 未 獲 生 扶 朱 淑 貞 良 人 愚 蠢
Quỷ nhược nhi vị hoạch sinh phù, Chu Thục Trinh lương nhân ngu xuẩn
Quỷ yếu mà không được sinh phù, chồng của Chu Thục Trinh ngu xuẩn.

Phàm xem thân mệnh cho phụ nữ, lấy hào Quan Quỷ làm chồng, không nên bị Tuần không, gặp Không thì khó làm chủ; lại không nên suy yếu, yếu thì gặp chồng kém cỏi. Nếu hào Phu yếu mà không được sinh phò hợp trợ, mà có các sát tinh Câu Trần, Đằng Xà, thì như chồng của Chu Thục Trinh tiểu nhân mà ngu xuẩn, nên có làm bài thơ đoạn trường.

58. 官 強 而 又 連 龍 福 吳 孟 子 夫 婦 賢 明
Quan cường nhi hựu liên Long Phúc, Ngô Mạnh Tử phu chủ hiền minh
Quan hào vượngmà lại có Thanh Long, Lộc Mã , chồng của Ngô Mạnh Tử hiền minh.
Nếu hào Quan Quỷ vượng mà gặp Thanh Long, Lộc Mã, Quí Nhân chủ có chồng hiền minh quí hiển, như Ngô Mạnh Tử lấy được chồng là Lỗ Chiêu Công . Nếu suy nhược mà được sinh phù cũng đoán thế.

59. 若 卜 嬰 孩 之 造 化 乃 相 福 德 為 用 神
Nhược bốc anh hài chi tạo hoá, nãi tương Phúc Đức vi Dụng thần
Nếu bói về nuôi nấng trẻ con, thì đêm hào Phúc Đức làm Dụng thần.
Phàm xem con trẻ dễ hay khó nuôi, mừng khi được Huynh vượng, tối kị Phụ Mẫu vượng động. Nếu Phụ Mẫu vượng động thì thương khắc, mà Huynh Đệ động thì sinh phò. Vốn được sinh phò thì dễ nuôi.

60. 隨 官 入 墓 未 為 有 子 有 孫
助 鬼 傷 身 不 免 多 災 多 病
Tuỳ Quan nhập Mộ, vị vi hữu tử hữu tôn.
Trợ Quỷ thương Thân, bất miễn đa tai đa bệnh.
Theo Quan nhập Mộ, thì chưa có con có cháu
Giúp Quỷ hại Thân, khó tránh nhiều bệnh nhiều tai
Nếu thất Tử Tôn nhập Mộ hoặc hoá Quan nhập Mộ, hoặc hoá Quan Quỷ tất chết. Cho nên mới bảo là “chưa gọi là có con có cháu”. Nếu gặp Quỷ thương khắc hào Huynh Đệ khiến Tử Tôn không có gốc rễ, tất nhỉều bệnh khó nuôi. Tài động trợ Quỷ khắc Huynh, hoặc Quỷ trì Thế lâm Thân tất chủ nhiều bệnh.

[1] Bá Chu là tên một thiên trong Kinh Thi. Thế tử nước Vệ là Cọng Bá mất, vợ là Cọng Khương thủ tiết, cha mẹ muốn gả chồng khác, nàng không chịu làm bài thơ này để thề giữ tiết.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 32

0

41. 子 化 合 財 唐 明 皇 有 祿 山 之 子
Tử hoá hợp Tài, Đường Minh Hoàng hữu Lộc Sơn chi tử

(Tuvivietnam – siêu tầm)
Hào biến là Tử hợp với Tài, Đường Minh Hoàng nhận Lộc Sơn làm con.
Hoá thành Tử ở tha cung[1] thì Tử hào là con nuôi. Nếu hợp với hào Tài mà mang Hàm Trì, Huyền Vũ tất có tình với thê thiếp của mình, như An Lộc Sơn tư thông với Dương Quí Phi.

42. 內 兄 合 應 陳 伯 常 有 孺 子 之 兄
Nội Huynh hợp Ứng, Trần Bá Thường hữu Nhụ Tử chi huynh
Hào Huynh ở nội quái hợp với Ứng, Trần Bá Thường có con với vợ của anh.
Huynh Đệ ở nội quái là anh em, không phải là bạn bè. Nếu hợp với hào Ứng hoặc hào Tài thì vợ tư thông với anh em, như Trần Bình quan hệ với chị dâu.

43.應 帶 勾 陳 兼 值 福 孟 德 耀 復 產 於 斯 時
Ứng đới Câu Trần kiêm trị Phúc, Mạnh Đức Diệu phục sản vu tư thời.
Ứng mang Câu Trần mà trị tại Phúc Đức, Mạnh Đức Diệu[2] lại sinh ra vào thời đó.
Câu Trần chủ xấu xí, thật thà. Tử Tôn chủ hiền thục. Ứng hào là vợ, vượng tướng mà lâm ở Tử Tôn, không bị thương khắc thì có vợ như nàgn Mạnh Quang, dung mạo tuy không đẹp mà thật đức hạnh.

44. 財 逢 玄 武 更 逢 刑 楊 太 真 重 生 於 今 日
Tài phùng Huyền Vũ cánh phùng hình, Dương Thái Chân trùng sinh vu kim nhật
Tài có Huyền Vũ lại bị hình, Dương Thái Chân tái sinh ở ngày nay.
Huyền Vũ là thần dâm loạn, nếu lâm Tài hào, vợ không trinh khiết, nếu phát động hợp với hào Ứng hoặc hợp với hào khác, như Dương Quí Phi nết hạnh xấu xa.

45. 合 多 而 眾 煞 爭 持 乃 許 子 和 之 錢 樹
Hợp đa nhi chúng sát tranh trì, nãi Hứa Tử Hoà chi tiền thụ
Hợp với nhiều hào mà trì nhiều sát tinh, là cây tiền của Hứa Tử Hoà.
Ứng là hào Tài được hợp quá nhiều, lại có Huyền Vũ, hình hại lâm ở đó là bọn ca kỹ, như Hứa Bình Hoà làm kỹ nữ, lúc sặp chết nói với mẹ rằng: “Cây tiền đổ rồi” .

46. 官 眾 而 諸 凶 皆 避 如 隋 煬 帝 之 採 花
Quan chúng nhi chư hung giai Tỵ, như Tuỳ Dạng Đế chi thái hoa
Quan hào nhiều mà tránh được mọi hung, như việc cắt lụa làm hoa của Tuỳ Dạng Đế.
Phàm Nhật Nguyệt động biến, được quá nhiều hào Quan tương hợp với Tài, mà hào Tài không lâm Huyền Vũ và các sát tinh tức chủ phụ nữ trùng hôn, tái giá, như Tuỳ Dạng Đế cắt lụa làm hoa ở Tây uyển. Nếu Quan Quỷ ở bản cung khắc Tài hào, là điềm sinh li tử biệt, không phải là chồng chết mà tái giá.

47. 白 虎 刑 臨 武 后 淫 而 且 悍
Bạch Hổ hình lâm, Vũ hậu dâm nhi thả hãn
Bạch Hổ lâm hình hại, Vũ Hậu dâm mà hung tợn.
Bạch Hổ là thần cường bạo, Phụ nữ gặp phải là người hung tợn, lại mang thêm hình hại lâm Tài hào như Vũ Tắc Thiên hung hãn mà dâm.

48. 青 龍 福 到 孟 母 淑 而 又 慈
Thanh Long phúc đáo, Mạnh mẫu thục nhi hựu từ
Thanh Long là phúc đến, như Mạnh mẫu hiện thục mà nhân từ.
Thanh Long chủ nhân từ, Tử Tôn chủ đứng đắn. Nếu Tài lâm Thanh Long hoá Tử hoặc Tử lâm Thanh Long sinh Tài, thì phụ nữ này hiền hậu nhân từ như Mạnh mẫu.

49. 逢 龍 而化 敗 兄 漢 蔡 琰 聰 明 而 失 節
Phùng Long nhi hoá bại Huynh, Hán Sái Diệm thông minh nhi thất tiết
Gặp Thanh Long mà hoá thành Huynh bại hoại, như nàng Sái Diệm đời Hán, thông minh mà thất tiết.
Tài gặp Thanh Long vốn chủ thông minhnhw hoá Huynh Đệ cùng Mộc Dục đều chủ không trinh khiết, không sống lâu , như nàng Sái Diệm tuyệt thếvăn chương mà thất tiết với người Hồ.

50. 化 子 而 生 身 世 魯 伯 姬 賢 德 而 無 疵
Hoá Tử nhi sinh Thân Thế, Lỗ Bá Cơ hiền đức nhi vô tì
Hoá Tử Tôn mà sinh Thân Thế, Bá Cơ nước Lôc hiền đức mà không tì vết.
Tài động hoá thành Tử Tôn sinh hợp Thế Thân tất có đức tốt, như Bá Cơ vợ của Lỗ Trang Công ngôn hạnh đều tốt, không thể phê bình gì hết.

[1] Tha cung là chỉ Biến quái. Quẻ Dịch gồm Chính quái, có động hào thì biến thành Biến Quái.

[2] tức là nàng Mạnh Quang (tự Đức Diệu), người đời Đông Hán vợ của Lương Hồng, là người hiền thục biết tờ chồng.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 31

0

31.伯 道 無 兒 蓋 為 子 臨 空 位
卜 商 哭 子 皆 因 父 帶 刑 爻

(Tuvivietnam – siêu tầm)
Bá Đạo vô nhi ,cái vị Tử lâm Không vị
Bốc Thương khốc tử, giai nhân Phụ đới hình hào
Bá Đạo không con vì Tử lâm Không
Bốc Thương khóc con vì Phụ hào mang những sao hình khắc.
Tử Tôn nếu lâm Không tất chủ không con, như Quách Bá Đạo bỏ con mà không sinh được nữa. Nếu Phụ có Hổ, Xà ,động khắc Tử Tôn thì như Tử Hạ khóc con chết vậy.

32. 父 如 值 木 竇 君 生 丹 桂 五 枝 芳
Phụ như trị Mộc, Đậu quân sinh đan quế ngũ chi phương
Hào Phụ thuộc Mộc như Đậu quân sinh được năm con quí.
Nếu hỏi sinh con nhiều hay ít phải dùng số sinh thành của ngũ hành mà luận, như hào Phụ thuộc Mộc thì Tử Tôn thuộc Thổ, Thổ có số là 5, như Đậu Yến Sơn sinh được 5 con.

33. 鬼 或 依 金 田 氏 取 紫 荊 三 本 茂
Quỷ hoặc y Kim, Điền thị tụ tử kinh tam bản mậu
Quỷ thuộc Kim như ba anh em họ Điền đều tốt đẹp.
Nếu hào Quỷ thuộc Kim thì Huynh Đệ thuộc Mộc , chủ có ba anh em, như Điền Chân, Điền Quảng, điền Khánh.

34. 兄 持 金 旺 喜 看 荀 氏 之 八 龍
弟 依 水 強 驚 睹 陸 公 之 雙 璧
Huynh trì Kim vượng, hỉ khán Tuân thị chi bát long
Đệ y Thuỷ cường, kinh đổ Lục công chi song bích.
Huynh trì Kim vượng, mừng thấy tám con rồng nhà họ Tuân
Đệ thuộc Thuỷ cường, sợ thấy chỉ được hai viên ngọc của Lục công.
Nên dùng số sinh thành của Lục thân mà suy, nhừng phải phân biệt suy vượng. Nếu sinh vượng thì tăng lên gấp hai, hưu tù thì giảm còn nửa. Cho nên Huynh thuộc Kim vượng thì như con của Tuân Thục gồm 8 anh em, như tám con rồng. Nếu Huynh lâm Thuỷ vượng tướng thì như hai viên ngọc Lục Vỹ với Lục Cung. Nếu vượng tướng mà bị chế , hưu tù mà được phò, lại nên dùng bản số để đoán. Ngoài ra cứ phỏng theo như thế.

35. 若 也 爻 逢 重 叠 須 現 在 以 推詳
Nhược dã hào phùng trùng điệp, tu hiện tại dĩ suy tường.
Nếu hào gặp trùng điệp thì nên lấy số hiện có để suy đoán.
Nếu trong quẻ chỉ có một hào, có thể dùng ngũ hành để suy. Nếu hai hoặc ba hào tất lấy số hào hiện có để đoán, như hai, ba, hoặc bao nhiêu đó…

36. 財 動 剋 親 于 早 歲
兄 衰喪 偶 於 中 年
Tài động khắc thân vu tảo tuế
Huynh suy táng ngẫu vu trung niên
Tài động khắc cha mẹ lúc tuổi nhỏ
Huynh suy thì vợ chết lúc trung niên
Tài khắc Phụ Mẫu, Huynh khắc Thê Tài .

37. 化 父 生 身 柴 榮 拜 郭 威 為 父
Hoá Phụ sinh Thân, Sài Vinh bái Quách Anh vi phụ
Hoá Phụ sinh Thân, Sài Vinh nhận Quách Anh làm cha.
Quẻ có Phụ Mẫu, lại biến ra Phụ Mẫu đến sinh hợp Thế thân, tất lại nhận cha mẹ, làm con người khác, như đời Ngũ Đại, Sài Thái Tông làm con của Chu Thái Tổ.

38. 化 孫 合 世 石勒 養 季 龍 為 兒
Hoá Tôn hợp Thế, Thạch Lặc dưỡng Quí Long vi nhi
Hoá Tử Tôn mà hợp với Thế, Thạch Lặc nuôi Quí Long làm con.
Quẻ có Tử Tôn, lại ngoại cung hoá ra Tử Tôn sinh hợp với Thân Thế, chủ người này có con nuôi, như thời Tấn, quí Long nhà hậu Triệu là con nuôi của Thạch Lặc.

39. 世 陰 父 亦 陰 賈 似 道 母 非 正 室
Thế âm Phụ diệc âm , Giả Tự Đạo mẫu phi chính thất
Thế âm mà Phụ cũng âm, mẹ của Giả Tự Đạo chẳng phải là vợ chánh.
Phụ và Thế đều thuộc âm tất là con của vợ lẻ, như Giả Tự đạo đời Tống.

40. 身 旺 官 亦 旺 陳 仲 舉 器 不 凡 庸
Thân vượng Quan diệc vượng, Trần Trọng Cử khí bất phàm dung
Thân vượng mà Quan cũng vượng, Trần Trọng Cử khí phách chẳng tầm thường.
Quan hào vượng tướng, Thân Thế cũng vượng tướng, lại gặp Quí Nhân, Lộc Mã, Văn thư (Phụ) sinh hợp Thế hào, tất chủ ngày sau đề tên lên bảng vàng, như Trần Trọng Cử có khí phách chẳng tầm thường.

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 30

0
(Tuvivietnam – siêu tầm)
21. 一 卦 和 同 張 公 藝 家 門 雍 睦
Nhất quái hòa đồng, Trương Công Nghệ gia môn ung mục
Một quẻ hoà đồng, Trương Công Nghệ cửa nhà hoà thuận
Xem thân mệnh mà sáu hào an tĩnh, không xung phá khắc hại, tướng sinh tương hợp, tất cửa nhà vui vẻ, như nhà Trương Công Nghệ 9 đời cùng chung sống với nhau, trên dưới thuận hoà.22.六 爻 同 擊 司 馬 氏 骨 肉 相 殘
Lục hào đồng kích, Tư Mã thị cốt nhục tương tàn
Sáu hào kích nhau, họ Tư Mã cốt nhục tương tàn
Sáu hào loạn động, quẻ lại xung khắc, hoặc tam hình lục hại. tất chủ người thân không hoà thuận, cốt nhục tương tàn, như tám vị vương họ Tư Mã đời Tấn, làm vua nhưng đều bị tru diệt.

23. 閔 子 騫 孝 孚 內 外 父 獲 生 身
孔 仲 尼 父 友 家 邦 兄 同 世 合
Mẫn Tử Khiên hiếu phu nội ngoại, Phụ hoạch sinh Thân
Khổng Trọng Ni phụ hữu gia bang, Huynh đồng Thế hợp
Mẫn Tử Khiên hiếu trong ngoài đều biết, nhờ Phụ được Thân sinh
Khổng Trọng Ni trong hiếu ngoài tin yêu, do Huynh hợp với Thế
Hào Phụ Mẫu là cha mẹ sinh ra ta, nếu Thế sinh hợp với hào Phụ Mẫu thì như Mẫn Tử Khiên hiếu với cha mẹ. Nếu Thế với Huynh Đệ sinh hợp thì như Không Trọng Ni trong hoà với anh em, ngoài được bạn bè tin yêu. Hào Huynh ở bản cung chỉ anh em, ở cung khác chỉ bạn bè. Xem nội ngoại Ứng hào để phân biệt thân sơ.

24. 世 應 相 生 漢 鮑 宣 娶 桓 氏 少 君 為 婦
晦 貞 相 剋 唐 郭 曦 招 升 平 公 主 為 妻
Thế Ứng tương sinh, Hán Bào Tuyên thú Hoàn thị Thiếu Quân vi phụ
Hối trinh tương khắc, Đường Quách Hy chiêu Thăng Bình Công Chúa vi thê
Thế Ứng tương sinh, Bào Tuyên đời Hán lấy Hoàng thị Thiếu Quân làm vợ,
Thế Ứng tương khắc, Quách Hy đời đường lấy Thăng Bình Công Chúa làm vợ
.
Thế là căn bản của cuộc đời, Ứng là người vợ kết tóc trăm năm. Nếu thấy sinh hợp thì phu xướng phụ tuỳ, nếu xung khắc thì sắt cầm lỗi điệu.

25. 箕 踞 鼓 盆 世 傷 應 位
Ky cứ cổ bồn ca, Thế thương Ứng vị
Ngồi xoạc gỏ bồn mà ca[1], Thế thương hào Ứng.
Thế trì Bạch Hổ, Đằng Xà, lâm Huynh Đệ mà vượng động, hình hại hào Ứng, hào Ứng lại vô khí thì hình khắc vợ, như Trang Tử thời Xuân Thu, vợ chết ngồi gỏ bồn mà hát.

26. 河 東 獅 子 吼 應 制 世 爻
Hà Đông sư tử hống, Ứng chế Thế hào
Vợ như sư tử Hà Đông vì Ứng chế hào Thế.
Hào Ứng hình xung hào Thế thì người này có vợ như chuyện Trần Quí Thường có vợ như sư tử Hà Đông.

27. 世 持 凶 而 應 剋 願 聽 雞 鳴
Thế trì hung nhi Ứng khắc, nguyện thính Kê minh
Thế trì hung mà bị Ứng khắc, mong được nghe thiên Kê minh
Nếu hào Thế ở Huynh, quan có các hung thần Hổ, Xà thì ngược lại mừng được hào Ứng khắc, ấy là khắc hung trên mình ta, trừ bệnh cho ta, chủ có vợ hiền, như Tề Tương Công bỏ phế triều chính mà được Trần hiền phi ngày đêm cảnh giới mà thành tốt, cho nên trong Kinh Thi có thiên “Kê minh”.

28. 身 帶 吉 而 子 扶 喜 聞 鶴 和
Thân đới cát nhi Tử phù, hỉ văn hạc hoạ
Thân mang cát thần mà được Tử phò, mừng được nghe hạc hoạ
Thế có cát thần mà vượng động, Tử Tôn lại sinh phò, chủ có con hiền cùng tạo sự nghiệp, làm thêm tốt đẹp. Dịch có câu:” 鶴 鳴 在 陰 其 子 和 之 Hạc minh tại âm, kỳ tử hoà chi”

29. 福 遇 旺 而 任 王 育 子 皆 賢
Phúc ngộ vượng nhi Nhậm Vương dục tử giai hiền
Phúc được vượng mà Nhậm, Vương nuôi con đều hiền.
Tử Tôn nếu vượng tướng, chẳng bị Không cùng chẳng bị thương khắc, chủ có con hiền, như Phương con của Nhậm Diêu, Giới con của Vương Hồn đều được gọi là người hiền trong nhóm Nguyễn Tịch.

30. 子 化 兄 而 房 杜 生 子 不 肖
Tử hoá Huynh nhi Phòng Đỗ sinh tử bất tiếu
Tử hoá Huynh mà Phòng Đỗ sinh con chẳng tốt.
Tử Tôn động biến Nguyệt Phá, quang quỷ với hào Huynh Đệ tương hợp, hoặc động lâm Huyền Vũ, hoặc với Quan Huyền Vũ hợp, thì người con đó chẳng ra gì. Vốn Huynh Đệ là thần phá bại, Quan Quỷ là thần mang nhiều tai hoạ, Huyền Vũ là sao gian hiểm, đạo tặc, Nguyệt Phá là thần không thành tựu. Lý Anh từng nói:”Phòng Đỗ bình sinh vất vả mà sinh con chẳng ra gì”.

[1] Tức vợ chết, Lấy tích Trang Tử lúc vợ chết gỏ bồn mà ca.

- Advertisement -