Chương 35. Luận Ấn thụ

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

Chương 35. Luận Ấn thụ

Nguyên văn:

Ấn thụ cách hỷ sinh thân, chính Ấn cách hay thiên Ấn cách đều là mỹ cách, cho nên hai cách Tài và Ấn không phân thiên chính, đều gom thành một mà bàn. Ấn thụ cách cục cũng không đồng nhất, trường hợp Ấn mà thấu Quan, Chính quan không độc thủ sinh Ấn, tức có thể làm dụng, cũng khác trường hợp dụng Sát. Cho nên Thân vượng Ấn cường, không phải băn khoăn quá mức, miễn là Quan tinh thanh thuần, như mệnh Trương Tham chính: Bính Dần / Mậu Tuất / Tân Dậu / Mậu Tý, thuộc trường hợp này.

Từ chú thích:
Quan và Ấn, tương tự như Tài và Quan, hoặc Tài và Thực thần, đều tương hỗ làm dụng, trường hợp dùng duy nhất một trong thập thần rất hiếm gặp, chỉ khác ở hành vận hỷ hay kị mà thôi. Trường hợp Ấn thấu Quan, Thân cường dụng Quan, hỷ Tài sinh Quan, Thân vượng Ấn cường, không lo Quan tinh thái quá, vì lý do đó mới hỷ Quan vượng. Chỉ cần Quan tinh thanh thuần tức là một bát tự tốt. Dẫn chứng từ mệnh Trương Tham chính, dường như không theo thói thường: Bính Dần / Mậu Tuất / Tân Dậu, hỏa vượng thổ khô kim giòn, nên hỷ gặp giờ Mậu Tý để nhuận thổ sinh kim, mà còn để tiết tú khí của kim, cho nên vận hành đông bắc kim thủy thổ liền phấn phát. Nếu không dụng Quan tinh, cũng không dụng Ấn thì phải chú trọng Thực thần, tức là con có thể cứu mẹ. Vì nguyệt lệnh Ấn thụ, cho nên đưa về luận Ấn mà thôi.

Nguyên văn:
Nhưng mà cũng có khi kèm theo Thương Thực mà quý hiển. Như mệnh Chu Thượng thư: Bính Tuất / Mậu Tuất / Tân Mùi / Nhâm Thìn. Nhâm bị Mậu chế không tổn hại Quan. Hoặc như mệnh Lâm Hoài Hầu: Ất Hợi / Kỷ Mão / Đinh Dậu / Nhâm Dần, do Kỷ bị Ất chế nên không đụng đến Quan.

Từ chú thích:
Mệnh Chu Thượng thư:
Bính Tuất / Mậu Tuất / Tân Mùi / Nhâm Thìn

Nhâm bị Mậu chế đúng ra không hại Quan tinh, nhưng tứ trụ trùng điệp 5 can chi thổ Ấn, địa chi tàng hỏa còn thiên can thấu Bính, nếu lại hành vận hỏa thổ lẽ nào gặp điềm may mắn? Tứ trụ này vi diệu ở can hỏa thổ kim thủy thuận chiều sinh nhau, cho nên thổ không chôn kim, Thìn thổ kiềm hãm táo khí (khí hanh khô), Nhâm thủy tiết tú khí của kim, trong Thìn Mùi đều tàng Ất mộc Tài tinh ám tổn Ấn thụ, ví như bệnh nặng mà được thuốc. Vận trình Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn là đất kim thủy mộc, thể dụng hòa hợp, cho nên quý hiển.

Lâm hoài hầu tạo:
Ất Hợi / Kỷ Mão / Đinh Dậu / Nhâm Dần

Dần Hợi Mão Ấn vượng, nắm lệnh và thấu Ất mộc, dụng thần đủ cả ở Dậu kim, tổn Ấn để sinh Quan, Kỷ thổ bị chế, không ngăn trở Quan tinh, trường hợp này là muốn khử bệnh thì chọn cái thanh thuần, không thể lấy Kiêu Ấn đoạt Thực làm dụng được.


Nguyên văn:
Trường hợp Ấn mà dụng Thương Thực, Thân cường Ấn vượng, e rằng thái quá, liền cho là tiết Thân để tạo thành tú khí. Như: Mậu Tuất / Ất Mão / Bính Ngọ / Kỷ Hợi, đây là mệnh Lý Trạng nguyên, nếu như Ấn thiển thân khinh, mà dụng Thương Thực tầng tầng lớp lớp là cách cục bần hàn.

Từ chú thích:
Thân cường Ấn vượng, dùng Kỷ thổ để tiết tú khí, tương tự như mệnh Trương Tham chính ( Bính Dần/ Mậu Tuất/ Tân Dậu/ Mậu Tý ), Kỷ thổ lộ ra, Quan tinh không thấy, dụng thần tương đối rõ ràng. Nếu Ấn thiển thân khinh mà Thương Thực trọng, thì cần lấy Ấn làm dụng, vận hành Ấn Tỉ cũng có thể bổ cứu cho mệnh, chỉ không phải cục quý hiển.

Nguyên văn:

Trường hợp (Ấn) dụng Thiên quan, Thiên quan vốn không không phải vật tốt lành, do mượn nó để sinh Ấn, bất đắc dĩ mà dùng. Cho nên tất Thân trọng Ấn khinh, hoặc Thân khinh Ấn trọng, vốn lực không đủ, mới thuộc trường hợp này. Như mệnh Mao Trạng nguyên: Kỷ Tị / Quý Dậu / Quý Mùi / Canh Thân, vốn là thân khinh Ấn trọng. Mệnh Mã Tham chính, Nhâm Dần / Mậu Thân / Nhâm Thìn / Nhâm Dần, thân trọng Ấn khinh. Nếu Thân Ấn cùng mạnh mà dụng Thất sát thì không cô đơn cũng nghèo khổ.

Từ chú thích:

Mệnh Mao Trạng nguyên, Kỷ thổ Thất sát tiết khí cho kim, Ấn thụ thái vượng, mà Tứ trụ vô Tài để phá Ấn, tức phản cục mà Trích Thiên Tủy gọi là mẫu từ diệt tử (mẹ hiền giết con). Chỉ có thể thuận theo mẫu tính, trái lại lấy kim thủy làm tốt, ngược với mệnh Lâm Hoài Hầu, bởi một mệnh thì có Tài còn một mệnh thì không có Tài. Mệnh Mã Tham chính, Nhâm thủy tuy thông nguồn, nhưng lưỡng Dần tiết khí, lấy Sát sinh Ấn làm dụng thần, quan trọng ở chổ Ấn, không thể kiến Tài, kiến Tài thì phá cách. Nếu Thân Ấn tịnh trọng mà kiến Thất sát thì lại không thể không có Tài. Dụng Tài phá Ấn sinh Sát, hoàn toàn không giống với dụng Sát sinh Ấn, bởi do Tài là gốc của Quan Sát, Quan Sát lại là gốc của Ấn, tiếp ứng cho nhau và cũng khắc chế lẫn nhau.

Nguyên văn:

Trường hợp dụng Sát kiêm đới Thương Thực, thì dụng Sát để khắc chế, sinh thân mà tiết tú, bất luận Thân vượng Ấn trọng, đều là quý cách.

Từ chú thích:

Dụng Sát kiêm đới Thương Thực chính là lấy Thực Thương tiết tú làm dụng, không phải chế Sát làm dụng. Khắc và tiết không thể tịnh dụng (cùng dùng). Thân cường Sát vượng, là mệnh chế Sát vi quyền, khi hỷ chế thì không nên lại hành vận Tài Sát; mệnh chế Sát thái quá, hỷ Tài Sát, không nên lại hành vận Thực Thương, điều này là lẽ bất di bất dịch. Như mệnh Tôn Bố Chính, khắc tiết tịnh kiến, chính là lấy Ấn thông quan làm dụng. Trường hợp này là mệnh mất căn bằng, lại ứng với một cách luận khác, xem ở chương luận vận tiếp theo sau thì rõ hơn.


Nguyên văn:

Trường hợp Ấn đa mà dụng Tài, Ấn trọng Thân cường, thấu Tài để ức cái thái quá, tùy cơ cân nhắc mà dùng, chỉ cần căn thâm, không cần phòng Tài phá. Như mệnh Uông Thị lang, Tân Dậu / Bính Thân / Nhâm Thân / Tân Hợi thuộc trường hợp này. Nếu Ấn khinh Tài trọng, lại vô Kiếp Tài để cứu ứng thành “tham Tài phá Ấn”, một cách cục bần tiện.

Từ chú thích:

Thân cường Ấn vượng, dụng Tài tổn Ấn, “căn thâm” tức nói đến gốc sâu của Ấn, “Tài phá” tức là ức Ấn thái quá này. Ấn là mẹ sinh ta, như mộc nhờ thủy sinh, song thủy vượng mộc trôi; hỏa nhờ mộc sinh, nhưng mộc thịnh hỏa bế tắc; thổ nhờ hỏa sinh, hỏa vượng thổ khét; kim nhờ thổ sinh, thổ trọng chôn kim; thủy nhờ kim sinh, kim đa thủy đục. Khử đi những cái thái quá này thì đắc trung hòa, tức là điều mà “Trích Thiên Tủy” nói: “quân lại thần sinh” (vua nhờ bề tôi), nhưng mệnh Uông Thị lang, Bính Tân hợp thành bệnh, may mắn vận trình đông nam mộc hỏa, khiến hợp này không hóa, mới có thể tổn Ấn hiệu quả. Nếu Ấn khinh Tài trọng mà Thân nhược, thì Tài là bệnh thần, tất cần dụng Tỉ Kiếp để lấy Kiếp khử Tài này, bằng không là tham Tài hoại Ấn.

Như mệnh một phú ông ở Chiết Tây:

Canh Thân / Mậu Dần / Bính Thân / Ất Mùi

Ất Canh viễn hợp, hóa Ấn thành Tài, Tài lại hội Lộc ở Thân, lưỡng Thân xung Dần, nhật nguyên Bính hỏa thân nhược, nhờ Ấn để tư trợ, nhưng mà Ấn bị Tài phá, lại không có Tỉ Kiếp chế Tài, đây chính là “tham Tài hoại Ấn”.

Nguyên văn:

Hoặc ngay như Ấn trọng Tài khinh mà kiêm lộ Thương Thực, Tài và Thực tương sinh, thành ra Tài khinh mà không khinh, tức có thể giàu nhưng không quý hiển. Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ đới (kèm theo) Thực mà quý hiển, tại sao vậy?

Như mệnh Ngưu Giám Bạc: Canh Dần / Ất Dậu / Quý Hợi / Bính Thìn. Ất hợp Canh không sinh cho Quý, vì lẽ đó mới quý hiển, bằng như hợp Tài tồn Thực thì có thể suy rộng ra.

Như một mệnh hợp Tài tồn Thực mà quý hiển: Kỷ Mùi / Giáp Tuất / Tân Mùi / Quý Tị.

Từ chú thích:

Nói chung thì hai chữ phú quý phân biệt thật là khó, thời xưa có người quý mà không phú, có người giàu có mà không quý hiển, còn người nay thì kẻ phú chưa chắc không quý hiển, kẻ quý hiển chưa chắc không giàu có. Sao phân biệt được? Phân biệt phú quý, cần lấy lời trong Trích Thiên Tủy là đầy đủ nhất: “Làm sao biết người đó giàu, tài khí thông môn hộ; làm sao biết người đó quý, Quan tinh hữu lý hội”, chỉ vài chữ nhưng hết sức đầy đủ. Tài và Thực tương sinh, nên khinh mà không khinh tức là Tài khí thông môn hộ (môn hộ là nguyệt lệnh). Nhưng mà mệnh Ngưu Giám Bạc vẫn cần phải chọn Thực thần sinh Tài làm dụng, lấy Ất Canh hợp không sinh Quý làm dấu hiệu quý hiển thì dường như chưa thật chính xác, bởi vì Ấn chưa hề bị hợp mất. Bính hỏa thông căn ở Dần, thân vượng Tài Ấn đều có gốc, có lẽ hợp với phú và kiêm cả quý hiển. Mệnh tuổi Kỷ Mùi, chế Ấn tồn Thực, còn Tị và Mùi lại củng Quan quý, đều là dấu hiệu quý hiển cả, còn Dụng thần thì ở Thực thần.

Nguyên văn:

Lại có khi Ấn mà kiêm thấu Quan Sát, hoặc hợp Sát, hoặc hữu chế, đều là quý cách. Như: Tân Hợi / Canh Tý / Giáp Thìn / Ất Hợi, mệnh này hợp Sát lưu Quan; Nhâm Tý / Quý Mão / Bính Tý / Kỷ Hợi, mệnh này Quan Sát hữu chế.

Từ chú thích:

Hợp Sát lưu Quan, hoặc chế Quan tồn Sát, cách cục nhân đó thanh thuần. Song hai mệnh trên, e rằng chưa thấy hết chổ vi diệu; mệnh sinh năm Tân Hợi, Sát Ấn cùng vượng và không có Thực Thương; còn mệnh Nhâm Tý, mộc ướt không có lửa, lực của Kỷ thổ e rằng bạc nhược, bảo là quý cách thì rất khó giải thích.

Nguyên văn:

Về trường hợp hóa Ấn làm Kiếp; bỏ theo Tài Quan, như mệnh Triệu Tri phủ, Bính Ngọ / Canh Dần / Bính Ngọ / Quý Tị, thì đã biến lại biến nữa.


Từ chú thích:

Dần Ngọ hóa Ấn thành Kiếp, Tài Quan Canh Quý có thể dụng, chỉ tiếc Tài Quan vô căn mà thôi. Nếu giờ Quý Tị đổi thành Quý Dậu hoặc Quý Hợi, vận hành đến đất Tài Quan tiền đồ càng lớn hơn nữa.

Chú thích bổ sung (đọc thêm tham khảo): Tứ trụ này Tài Quan vô căn, Tài lại bị Kiếp đoạt, cần phải luận theo Tòng vượng cách, Quý thủy là Bệnh, đại vận Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, thẳng đường phối hợp ăn khớp tứ trụ, cho nên quý hiển làm đến chức Tri phủ. Nếu dụng Tài Quan, phối với mộc hỏa vận trình, tất bần tiện không cần nghi ngờ.

Nguyên văn:

Lại có khi Ấn thấu Thất sát, còn có Kiếp tài để bảo tồn Sát Ấn, cũng là một trường hợp quý cách, như một mệnh Canh Tuất / Mậu Tý / Giáp Tuất / Ất Hợi, ứng với trường hợp này. Song cách này dù sao cũng khó xem, cần kỹ càng xem xét.

Từ chú thích:

Tứ trụ này can chi thổ Mậu, Tuất bao vây Tý Ấn, chọn Ất mộc khắc chế Mậu thổ để bảo tồn Sát Ấn, mà trong Tuất lại tàng Đinh hỏa Thực thần không bị Tý Ấn đoạt. Ất mộc càng làm tăng vẻ đẹp của hỏa, cát thần đều ám tàng ví như có bệnh mà có cứu, vì điều này nên mới quý hiển.

Tử Vi Việt Nam Sưu  Tầm – Theo Tử  Bình Diệu Dụng
Chia sẻ.

Bình luận