84. Giải đoán lá số tử vi của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (KHHB Số 9)

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

GIẢI ĐOÁN LÁ SỐ TỬ VI CỦA THI SĨ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Sanh năm Ất Mão tháng 4, ngày 1, giờ Dần, âm nam, thủy mệnh, thổ ngũ cục.

“ Ta đợi em từ hai mươi năm.
Uổng hoa phong nhụy hoài trăng rằm…. “

Một mối tình đẹp thư tho và mong manh như sương khói…phù du, đã tan vỡ từ bao nhiêu năm qua vẫn còn đẹp mãi trong tâm hồn nhà thơ họ Vũ…. Vũ Hoàng Chương là một trong những văn thi si tiền chiến còn sót lại ở Miền Nam, cũng là một trong những ngôi sao sáng của khung trời văn học miền Nam hiện nay. Nổi danh từ trước những năm 1940 với những vần thơ hoài niệm quá khứ “ Gối vài mộng phong hầu, vàng son mơ gác xép “ hay những điệu thơ buồn nhẹ khóc cho một cuộc tình mong manh….

Cho tới vở kịch thơ lãng mạn “ Văn Muội “ ( trước kháng chiến ) Rừng Phong tập thơ xuất bản ở Hà Nội năm 49 -50 và tới nay… Trên 30 năm trên thi đàn, Vũ Hoàng chương vẫn là một vì sao khuê rực sáng…. Trong lúc những người cũng làm văn nghệ cùng thời với ông, có khi sau ông ít nhiều đã rơi vào quên lãng…. Phải chăng hơn nhau ngoài cái “ Tài ‘ còn có cái “ số “ Một biên tập viên của KHHB, ông Thiên Cơ sẽ chấm giải lá số của thi sĩ Vũ Hoàng Chương để bạn đọc có thể qua lá số biết được thêm về con người, tình yêu và sự nghiệp của nhà thơ Vũ Hoàng Chương, một người mà chúng tôi tin là độc giả đã biết nhiều qua thi ca của ông.
K.H.H.B

– Thiên cơ phối kiểm và luận giải –

Khái luận Thân, Mệnh, Cục:

Mệnh lập tại Mão, chấn cung thuộc âm Mộc. Tuổi âm Nam, Mệnh lập tại cung âm, Thủy Mệnh lập tại cung thuộc Mộc là thuận lý. Đắc cách Nhật xuất phù tang hội Quyền, Lộc, Tả- Hữu Long, Phượng, Thai- Tọa và cách Lộc Tồn ngộ âm Dương miếu vượng; Thái Tuế ngộ Quyền, Khốc , lộc; Quyền ngộ Tướng Ấn.

Vơi những cách này đáng lẽ phát về quan trường, nhưng cung quan lộc VCD, lại ngộ Triệt, khiến nên bản tính phóng khoáng, không chịu được sự gò bó trong hoạn lộ.

Thân cư Quan lộc tại Mùi – âm cung thuộc Thổ, tuổi âm nam, Thổ cục, Thân cư cung âm -Thổ rất thuận lý. Đắc cách Long Phượng, Tả Hữu ( cư tứ mộ ) Thai Tọa, hội Nhật Nguyệt, Quyền Lộc, Khốc Khách Long Hổ Tướng Ấn; Cái Hổ Long Phượng ( tứ linh ) củng chiếu. Lại thêm cách Thân giáp Xương giáp Khúc, giáp Quang giáp Quý. Nhờ ngộ Triệt cho nên ảnh hưởng tinh lực của Hóa Khoa.

Cung Thân hội nhiều sao nổi tiếng lại giáp Xương Khúc; Quang Quý thành thử đương số nổi tiếng lâu dài và sáng tác thi phẩm vẫn lai rai cho đến ngày vãn tuế, vì mệnh có Khốc Hư.

Lược giải các đại, tiểu hạn.

Biến chuyển tình cảm quan trọng nhât trong đời nhà thơ Vũ Hoàng Chương là mối tình đầu mà cũng là mối duyên nợ cứ đeo đẳng mãi tâm tư suốt tuổi hoa niên cho đên ngày vãn tuế. Đó là năm 1932, ( Nhâm Thân ) đương số 18 tuổi, gốc đại hạn ở Huynh Đệ, tiểu hạn đến Điền trạch. Gốc đại hạn có Thiên tướng ngộ Xương Khúc, Trường sinh, Song hỉ. Tiểu hạn hôi Liêm Tham ( cả hai đều có tính chất đào hoa ) ngộ Hồng Đào, một mối tình thơ mộgn đã hằn sâu trong tâm khảm đương số mười năm trời để rồi tan vỡ, chỉ vì Đà La và Đẩu quân cản trở sự hợp hôn, và Trường sinh đã giữ lại lâu dài vết thương lòng trong tâm tư. Khi người yêu đi lấy chồng, vào ngày 12 tháng 6 năm 1941 khiến cho đương sô ngẩn ngơ:

Đôi lứa say mê cùng gắn bó
Mẹ cha cùng hẹn để dành nơi
Trường chung một hướng, nhà chung ngõ
Hoa gấm cùng mơ dệt cuộc đời
Thế mà tan tác mười năm mộng
Có kẻ ra đi chẳng một lời….

Để rồi tháng năm chồng chất, dù thương hải tang điền bao lần biến đổi, nhưng mối tình đầu vẫn ngày một in đậm nét trong lòng và lẫn trong thi phẩm:

Yêu một khắc để mang sầu trọn kiếp
Tình mưới năm còn lại mấy tờ thư…

Năm 1933 ( Quý Dậu ), đương số 19 tuổi, tiểu hạn vào Quan lộc, có Long Phượng, Tả Hữu, Thai Tọa hội âm Dương, Quyền, Lộc ,Tuế, Khốc Khách, Long Hổ Cái phượng ( tứ linh ) đương số vướng vào nợ thi ca. Cũng bắt đầu từ tiểu hạn ở cung Quan lộc cư Tứ Mộ có Tả Hữu, long Phượng hội tứ linh, giáp Xương Khúc, Quang Quý; Mệnh đắc Nhật xuất phù tang ( mặt trời lên khỏi ruộng dâu ) ngộ Quyền Lộc Tuế Khốc cho nên đương số hiển đạt sự nghiệp văn chương, vời vợi trên thi đàn như ngôi sao Bắc đẩu.

Năm 1937 ( Đinh Sửu ) , 23 tuổi, tiểu hạn vào Tài bạch, lưu đại hạn vào ở Mệnh viên. Tiểu hạn gặp Thái âm cư Hợi, tức Nguyệt lãng thiên môn ngộ Hóa Kỵ là khánh vân phùng Nguyệt, hội họp với Lộc Mã, Lộc Quyền, Tả Hữu, Cơ Lương. Đáng lẽ với sự thông minh lỗi lạc đó, dịp này đương số phải xuất dương du học như hạn Nhật xuất phu tang của lá số chính khách Hồ Hữu Tường. Hiềm vì gốc đại hạn còn ở Huynh Đệ có Thiên tướng ngộ Đà la, Song hỉ, đương số phóng túng, ưa la cà trà đình tửu điếm hơn là chú ý đến chuyện học hành thi cứ. Cho nên năm này đỗ xong tú tài Pháp, là đương số ghi tên học luật cho chương trình học đường khỏi vướng bận óc lãng mạn, bước lãng du của nhà thơ, hơn các phân khoa khác. Tuy vậy, học luật cũng chỉ có hơn 2 năm, qua đến năm Đinh Mão, tiểu hạn vào Thê thiếp gặp Cự Đồng hãm ngộ Tuần, hội các hung tinh chuyên tác họa như Không Kiếp Tang Điếu Cô Quả, Tuế, Phục khiến cho đương số bỏ ngang sự học.

Vì năm này đương số 25 tuổi, Đại Tiểu hạn trùng phùng ở đây, Cự, Đồng hãm ngộ Tả – Hữu là thay đổi hoàn cảnh rất đột ngột. Đáng lẽ bỏ học để phiêu lãng cho thỏa chí tang bồng, nhưng nhờ có Cơ; Lộc, Mã ngộ Thanh Long, Long Phượng; Thai – Tọa cho nên đương số đi làm Phó kiểm soát sở Hỏa xa Đông Dương.

Năm Canh Thìn ( 1940 ) tiểu hạn đến Huynh-Đệ, lưu đại hạn lên Quan Lộc, tiểu hạn có Vũ, Tướng ngộ Xương Khúc, Quang Quý, Thiếu âm, Quan đới, Hóa Khoa, Trường Sinh, Thai Phụ, Hỉ Thần hội Tấu Thơ, Thiên Phủ, Tử vi. Gốc đại hạn và lưu đại hạn giao huy có Mộc Dục, Hoa cái, Tả Hữu Long, Phượng, Thai – Tọa, Thanh Long, Hóa lộc, Thiên Mã, đương số xuất bản tác phẩm thơ SAY; một đứa con nghệ thuật đầu tiên chào đời; mà giá trị văn chương đến nay vẫn còn ngời sáng với những câu bất hủ:

Say đi em ! Say đi em !
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa và quên quên hết
Ta say quá rồi
Sắc ngả màu trôi
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi ?

Mà đó cũng là những vần thơ lãng mạn tột cùng đầy đam mê như hầu hết thi phẩm của Vũ Hoàng Chương, vì Tấu thư ngộ Thai ở Tật ách tại cung Địa Võng, có Kình – Đà, Diêu, Hỉ hội chiếu; Mệnh có âm, Dương, Xương, Khúc. Đó là biểu hiện của nỗi đam mê và tâm hồn lãng mạn bám sát đương số từ thuở hoa niên cho đến ngày vãn tuế.

Năm Tân Tị ( 1941 ) 27 tuỏi, tiểu hạn lên Mệnh viên. Gốc đại hạn có Kiếp Không; Tang Điếu gặp năm tiểu hạn có lưỡng Tuế, Suy, Tuyệt và Thái Dương ngộ Kỵ, là đương số đau khổ vì người yêu đi lấy chồng, đương số ôm ấp một dĩ vãng mười năm chất ngất sầu đau:

Là thế là thôi là thế đó
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm trăng cũ ai nguyền ước ?
Tố của Hoàng ơi ! Tố của anh…

Năm Nhâm Ngọ ( 1942 ), tiểu hạn đến Phụ mẫu, gặp hai cung Nô bộc và Tật ách hội họp, hội đủ bộ Thai, Diêu, Thương , Sứ, Hồng, Đào, Thiên Phủ ngộ Thiên Không đương số đang tuyệt vọng vì tình chán nản cuộc sống, gặp bạn bè rủ rê làm quen với ả phù dung. Cũng vì Kình Đà giáp Mệnh chiếu Tật ách, Tật ách lại đóng cung Địa Võng là cung rât độc đối với các tuổi Mão Dậu. Ở trong lại có Thai ngộ Liêm Trinh, bên ngoài có Thiên Tướng, Thiên Diêu, thiên hỉ hội chiếu, khiến cho đương số vướng vào nghiệp đi mấy về gió và đeo đẳng mãi cho đến ngày viên tịch.

Năm 29 tuổi ( Quý Mùi ) tiểu hạn đến Phúc Đức, gốc đại hạn ở Thê Thiếp giao huy với Lưu đại hạn ở Quan Lộc. Đương số gặp lương duyên; đến năm 30 tuổi, tiểu hạn vào Điền trạch, hội Hồng Đào, Thai Hỉ Khôi, Khoa, Tướng, Phủ mới hoàn thành cuộc hôn phối; và vị nguyên phối này chung sống với đương số mãi đến ngày nay; nhờ Thê thiếp có Cự, Cơ ngộ Lộc, Mã, Long-Phượng, Cự Môn, thiên Đồng, Quả Tú ngộ Tuần.

Nhìn qua các cung Tử-tức, Điền –trạch, Tài- bạch.

Cung Tử tức có Tham lang cư Tý, Hồng, Đào, Diêu, Hỉ ngộ Thiên Không, Kiếp sat, song Hao, Thiên Hình. Tuy có Hóa Khoa, Quang Quý, Quan Phúc quý nhân; Sinh, Vượng, song Hỉ nhưng vì Tuần Không án ngữ, cho nên đương số phải chịu cảnh hiếm con. May nhờ có Thiên Đức, Phúc đức bên trong, ngoài có Nguyệt Đức và bộ Khôi Việt hội họp với Thiếu âm, Thiếu Dương cho nên đương số cũng không đến nỗi võ nhi tống lão.

Cung Điền trạch đóng tại Ngọ, có Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội chiếu Tử vi miếu địa tọa thủ gặp Phủ Tướng triều viên đáng lẽ đương số nhà lầu ô tô, ruộng vườn sung túc. Hiềm Tử vi ngộ Triệt hội song Hao khiến đương số chẳng những không được hưởng của phụ ấm, mà còn lận đận vì chuyện nhà cửa suốt đời.

Cung Tài bạch cũng quá tốt, mới nhìn vào thấy Thái âm ngộ Kỵ hội Lộc Mã, Bạch Hổ, Tướng Quân, Lộc Tồn, Thái Dương phải là tỷ phú. Hiềm vì Thiên giải và Tuyệt đồng cung làm cho hao tán ví như cái tủ sắt thủng đáy. Nhờ Mệnh có Lộc tồn, cho nên suốt đời đương số vẫn thực lộc viên mãn.

Nhìn qua các tiểu hạn sắp đến:

Năm nay ( nhâm tý ) tiểu hạn và gốc đại hạn đều vào La Võng tại cung Tật ách; coi chừng các tháng 7,8,chạp, nguyệt hạn vào các cung có Không, Kiếp, Kỵ đương số sẽ bị ngã, hoặc ngộ độc. Năm Giáp Dần, 60, tiểu hạn gặp Sát, Phá, Tham tuy độc nhưng ngộ Tuần Không cho nên đương số chỉ ốm đau, hoặc có tiểu tang trong năm 61 tuổi vì tiểu hạn vào Thê thiếp có Kiếp Không, Tang, Điếu ,Tuế, Phục, Cô, Quả. Đến năm 64 tuổi là năm chót của đại hạn ở Tật ách có Phủ phùng Không, bao nhiêu sự xui xẻo còn sót lại đều dồn trong năm này để đổi lên đại hạn mới ở cung Thiên di, tiểu hạn ở Phụ mẫu giao huy với đại hạn Tật ách đó là hạn nặng nhất trong vòng mưới năm nay. Đương số sẽ ốm một trận vì có Diêu Y, Hồng, Đào, Hình, Không Thương, Sứ. Sau đó, đương số sẽ phải vượt một tiểu hạn nữa là năm 69 tuổi Đại tiểu hạn trùng phùng ở Thiên di: có Tang, Mã, không, Kiếp, Khốc, Khách, Điếu, Phục, Cô Quả. Nhờ có Thiên Lương Lộc tồn ở Mệnh, đương số ốm yếu nhưng vẫn trường thọ, nếu thoát được hai tiểu hạn vừa nêu trên.

Tóm lại, nhà thơ Vũ Hoàng Chương được các văn thi sĩ đương thời suy tôn là thi bá chỉ vì thi phẩm của ông đến bây giờ vẫn còn xuất bản những tác phẩm in từ thời tiền chiến vẫn còn làm nhiều bạn trẻ hôm nay mên chuộng. vì Mệnh có Thái Dương cư Mão ngộ Quyền, Lộc, Tuế, Khốc Hư và Thân cư tứ Mộ có Tả-Hữu, Long, Phượng, Thai-Tọa, giáp Xương Khúc, Quang Quý có Nhật Nguyệt tịnh Minh hội chiếu.
TC

Tặng cho những ai thích thơ Vũ Hoàng chương nè, một bài thơ cụ viết về mối tình 10 năm của cụ đi lấy chồng

Tố của Hoàng ơi

Năm 12 tháng, ai không biết!
Đã tháng nào không tháng 6 chưa?
Tháng có 30 ngày để giết,
Ngày 12 vẫn sống như xưa.

Lịch treo giữa ngực kêu thành tiếng,
Chẳng tiếng nào nghe khác tiếng mưa
Rả rích từ hôm con én liệng
Vào lồng son… tủi áng mây đưa.

Thời gian từng giọt buông theo máu
Lại trở về, không gọi cũng thưa.
Còn đó 12, còn tháng 6…
30 năm lẻ vẫn chưa vừa!

Còn khóc trong tim này bất tuyệt;
Chừng như rối loạn cả đường tơ?
Trăng-nhà-ai vẫn là Trăng-khuyết
Đứng sững từ đêm ấy đến giờ!

Ngày mai ngày mốt anh nằm xuống,
Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp Thơ.
Đập nát ra! cho trời đất uống!
Thì em sẽ rụng khỏi Đêm-mờ.

*

Phút giây Trăng-một-phương tròn lại
Rồi tự hoà tan Rượu-đắng mơ,
Cùng nhịp tim trôi vào tận cõi
Không-ngày-không-tháng-không-bơ-vơ.

12 tháng 6… cung Hồ Xế…
Một mối tình si một mối thù
Giây phút cũng tan thành biển lệ;
Trả cho cát bụi nhé Kiều-Thu!

(12 tháng 6 Nhâm Tý, 1972)

Bài thứ 5 trong tập thơ “Chúng ta mất hết chỉ còn nhau”, NXB Rừng Trúc, Paris, 1974

Tử Vi Việt Nam Sưu Tầm – Theo Tử Vi Lý Số

Chia sẻ.

Bình luận