29.6 C
Hanoi
Thứ Bảy, 6 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 50

HỎA TINH LINH TINH HỢP LUẬN – ĐẠI TOÀN

0

Hỏa tinh Linh tinh hợp luận – Đại toàn

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

      火星 – Hỏa Tinh

      又 杀神,属火,南斗浮星。
Là một “Sát thần”, thuộc Hỏa, Nam Đẩu phù tinh.

      火 星为四煞之一,乃一凶星。居寅午戌为入庙,居巳酉丑为得地,居亥卯未为利益,居申子辰为陷。火星入命,面色红黄,眼大,脸圆长,中等身材,略壮。于人性情 则刚强出眾,急躁胆大,顽固不化,自以为是,心性毒辣,唇齿四肢有伤,麻面或面有伤痕,毛髮有异于常人之处,如为红棕色或卷毛。落入十二宫中皆不为美论, 唯居疾厄宫入庙,作身体强壮少病论之。与庙旺之贪狼同宫入命,指日立边功,武职显贵,经商横发。火星虽入庙旺之乡守命,亦有不顺,成败起伏势所难免,若入 陷宫,刑克甚重,克害六亲,易招官非横祸,恶疾缠身。

Hỏa tinh là một trong Tứ Sát, cũng là hung tinh. Cư Dần Ngọ Tuất là nhập miếu, cư Tỵ Dậu Sửu là đắc địa, cư Hợi Mão Mùi là ích lợi, cư Thân Tí Thìn là hãm địa. Hỏa tinh nhập Mệnh, sắc mặt đỏ vàng, mắt to, mặt tròn dài, thân hình trung bình, khá cường tráng. Là người tính tình cương cường xuất chúng, táo bạo hấp tấp, ngoan cố, tự cho mình đúng, tâm địa cay độc, răng miệng tứ chi có thương tích, tàn nhang hoặc có sẹo, râu tóc có chỗ khác thường, ví dụ như tóc nâu đỏ hay tóc xoăn. Nhập 12 hai cung đều không luận là tốt, duy nhập miếu ở cung Tật ách thì thân thể cường tráng ít bệnh. Đồng cung với Tham Lang miếu vượng nhập Mệnh, chủ có ngày lập công, võ chức quý hiển, kinh doanh hoạnh phát. Hỏa Linh tuy nhập miếu thủ Mệnh, cũng có điều không thuận lợi, thành bại thăng trầm là khó tránh, nếu nhạp cung hãm địa thì hình khắc nghiêm trọng, khắc hại lục thân, dễ rước kiện tung tai họa bất ngờ, có bệnh nặng trong người.

      女命火星,性格刚强,热烈外向,敢说敢言。火星庙旺又与吉星庙旺同守,旺夫益子,贞烈之妇。陷宫守命或同宫之正星落陷,心毒,内狠外虚,凌夫克子,不守妇道,多是非,淫欲下贱。

Nữ mệnh Hỏa Tinh, tính cách cương cường, sôi nổi hướng ngoại, dám ăn nói. Hỏa Tinh miếu vượng lại có cát tinh miếu vượng đồng thủ, vượng phu ích tử, là người vợ trinh liệt. Hãm địa thủ Mệnh hoặc đồng cung bới chính tinh lạc hãm, tâm địa thâm độc, lòng dạ xấu xa vẻ ngoài giả dối, xúc phạm chồng khắc con, không thủ phận làm vợ, nhiều thị phi, dâm dục hạ tiện.

      1 、火星利东、南方生人,及寅卯巳午年生人,则祸轻,不利西、北方生人,祸重。
Hỏa Tinh lợi cho người sinh phía Đông, Nam, và người sinh năm Dần Mão Tỵ Ngọ, tai họa nhẹ, không lợi cho người sinh phía Tây, Bắc, tai họa nặng.

      2 、火星守命,入庙见诸吉,对宫及叁合宫不加凶,宜从事军警起家,立武功,中年始兴。
Hỏa tinh thủ Mệnh, nhập miếu hội nhiều cát tinh, đối cung và tam hợp không hội hung tinh, thích hợp làm trong quân đội cảnh sát, lập võ công, trung niên bắt đầu phát triển hưng thịnh.

      3 、火星与贪狼守命,加吉星,宜从武职,主能立功边疆,有将相之贵,经商则必大发财利,主富,加羊陀劫空不作此论。
Hỏa tinh và Tham Lang thủ Mệnh, hội cát tinh, thích hợp làm võ chức, chủ có thể lập đại công ở biên cương, có cái quý của bậc làm quan tướng, kinh doanh thì tất đại phát tài lợi, chủ phú, hội Dương Đà Không Kiếp thì không luận như trên.

      4 、火星陷地,羊陀同宫,主人繈褓灾深,少年易夭折,只宜过房外家寄养,二姓延生,重拜父母方可。
Hỏa Tinh hãm địa, Dương Đà đồng cung, chủ người lắm tai họa nặng nề, thiếu niên dễ chết yểu, chỉ thích hợp cho làm con nuôi để người khác nuôi dưỡng, mang hai họ, nếu nhận cha mẹ nuôi thì cũng có thể tránh được.

      铃星 – Linh Tinh

      又 杀神,属火,南斗浮星。
Còn có tên khác là “Sát thần”, thuộc Hỏa, Nam Đẩu phù tinh

      铃 星为四煞之一,乃一凶星。居寅午戌为入庙,居巳酉丑为得地,居亥卯未为利益,居申子辰为陷。铃星入命,面色青黄,形容不一,有奇特怪异之处。于人性情则刚 强出眾,急躁胆大,顽固不化,自以为是,心性毒辣,嫉妒心强,牙齜必报,说话声音低沈或沙哑,凡事不讲情面,险恶阴狠,头面手足有伤,麻面。落入十二宫中 皆不为美论,唯居疾厄宫入庙,作身体强壮少病论之。铃星与庙旺之贪狼入命,指日立边功,武职显贵,经商横发。虽入庙旺之乡守命,亦有不顺,成败起伏在所难 免,入陷宫,克害六亲,易招官非横祸,恶疾缠身。

Linh Tinh là một trong Tứ Sát, cũng là hung tinh. Cư Dần Ngọ Tuất là nhập miếu, cư Tỵ Dậu Sửu là đắc địa, cư Hợi Mão Mùi là lợi ích, cư Thân Tí Thìn là hãm địa. Linh Tinh nhập Mệnh, sắc mặt vàng xanh, mặt và người không phù hợp, có chỗ khác lạ kì quái. Là người tính tình cương cường xuất chúng, hấp tấp táo bạo, ngoan cố, tự cho mình là đúng, tâm địa cay độc, lòng đố kị lớn, nói chuyện âm thấp, trầm hay khàn, mọi chuyện không bàn chuyện cá nhân, hiểm ác âm mưu, mặt đầu tay chân có vết thương, mặt tàn nhang. Nhập 12 hai cung đều không luận là tốt, riêng cư cung Tật ách nhập miếu thì luận là thân thể cường tráng ít bệnh. Linh Tinh và Tham Lang miếu vượng nhập Mệnh, có ngày lập công, võ chức quý hiển, kinh doanh hoạnh phát. Tuy nhập đất miếu vượng thủ Mệnh cũng có chỗ bất lợi, thành bại thăng trầm là khó tránh, nhập cung hãm địa, khắc hại lục thân, dễ chuốc tai họa bất ngờ kiện cáo, có bệnh nặng trong người.

      女命性格刚强,热烈外向,背六亲,伤夫子,入庙遇吉丰足,陷宫不贞洁,贫寒下贱。
Nữ mệnh tính tình cương cường, sôi nổi hướng ngoại, phản lục thân, hình thương chồng con, nhập miếu hội cát tinh thì đầy đủ, lạc hãm thì không trinh khiết, nghèo khó bần tiện.

      1 、铃星利东、南方生人,及寅午戌年生人,则祸轻,不利西、北方生人,祸重。
Linh Tinh lợi cho người sinh phía Đông, Nam, và người sinh năm Dần Ngọ Tuất, họa nhẹ; không lợi cho người sinh phía Tây, Bắc, họa nặng.

      2 、铃星守命,入庙见诸吉,对宫及叁合宫不加凶,宜从事军警起家,立武功。
Linh Tinh thủ Mệnh, nhập miếu hội nhiều cát tinh, đối cung và tam hợp không có hung tinh, thích hợp làm về quân đội cảnh sát, lập võ công.

      3 、铃星守命,入庙遇紫府左右,不贵即富。
Linh Tinh thủ Mệnh, nhập miếu hội Tử Phủ Tả Hữu, không quý tất phú.

      4 、铃星与贪狼守命,加吉星,宜从武职,主能立功边疆,有将相之贵,经商则必大发财利,主富,加羊陀空劫不作此论。
Linh Tinh và Tham Lang thủ Mệnh, hội cát tinh, thích hợp làm võ chức, chủ có thể lập công nơi biên cương, có cái quý của bậc quan tướng, kinh doanh tất đại phát tài lợi, chủ phú, hội Dương Đà Không Kiếp không luận như trên.

      5 、铃星陷地守命,孤贫、夭折、破相延寿。
Linh Tinh hãm địa thủ Mệnh, nghèo khổ, chết yểu, nếu phá tướng thì có thể kéo dài tuổi thọ.

      6 、铃星守命,廉贞擎羊会,主刀兵。
Linh Tinh thủ Mệnh, Liêm Trinh Kình Dương hội, chủ đao binh.

      7 、铃星七杀同宫,主阵亡。
Linh Tinh Thất Sát đồng cung, chủ chết trận.

      8 、铃星破军同宫,财、屋必倾,破家荡產。
Linh Tinh Phá Quân đồng cung, tất khuynh gia bại sản.

      9 、铃星守命,羊陀凑合,孤单、弃祖、伤残、带疾。
Linh Tinh thủ Mệnh, Dương Đà vây, cô đơn, rời xa quê quán tổ tiên, thương tật, có bệnh.

      10 铃昌陀武,限至投河,此四星交会於辰戌二宫,辛壬己年生人,二限行至辰 戌,定遭水厄。
Linh Xương Đà Vũ, hạn chí đầu hà”, bốn sao này gặp nhau tại hai cung Thìn Tuất, người sinh năm Tân Nhâm Kỷ, hai hạn đến Thìn Tuất, tất gặp hỏa ách.

      火星铃星合论 – Hỏa Tinh Linh Tinh hợp luận

      1 、火铃乃杀神,兇恶之星,於寅午戌为入庙,申子辰落陷。十二宫中皆作祸,於人命内,有凶无吉,虽入庙旺之乡,亦非全吉,必有成败倾颓。命宫有吉遇火铃入庙者,多宜武职荣身。唯与贪狼同宫於旺地,或二星并夹贪狼,或与贪狼加会,则为发福之论。

Hỏa Linh là Sát thần, là sao hung ác, nhập miếu ở Dần Ngọ Tuất, lạc hãm ở Thân Tí Thìn. Ở 12 hai cung đều luận là hung, nhập Mệnh, có hung tinh mà không có cát tinh, tuy nhập đất miếu vượng, cũng không tốt hoàn toàn, tất có thành bại sụp đổ. Mệnh có cát tinh và Hỏa Linh nhập miếu thì thích hợp với võ chức, có thể vinh hiển. Duy đồng cung với Tham Lang ở đất vượng địa, hoặc hai sao trên giáp Tham Lang, hoặc hội chiếu với Tham Lang, thì luận là phát phúc.

      2 、火星铃星入命,主人头面四肢带伤,脾气粗暴,心狠性毒,反抗心强。入庙则刚强果敢,聪明机敏,有决断力。入陷宫则身材瘦小,刚愎自用,狡猾多诈,无远虑,行事欠缺谨慎,不计后果,一生亦常遭挫折,以至精神烦闷。

Hỏa Tinh Linh Tinh nhập Mệnh, chủ người đầu, mặt, tứ chi có vết thương, tính khí thô bạo, tâm tính tàn độc, tính khản kháng mạnh. Nhập miếu thì quả quyết cương cường, thông minh cơ duệ, có tính quyết đoán. Nhập hãm cung thì thân thể gầy nhỏ, cứng đầu, giảo hoạt, không suy nghĩ sâu xa, hành sự thiếu ổn trọng, không tính đến kết quả, một đời cũng thường gặp trắc trở, dẫn đến phiền muộn trong lòng.

      3 火铃夹命为败局,寅午戌年生人如遇火星铃星夹命身宫,又本命之正星不吉,陷弱,或化忌,或有凶煞,则为败局,一生遭凶,贫财夭折。如正星庙旺加吉,则主一生不顺,多小人,尚不至大凶而已。若贪狼居命有火铃夹,则以吉论,反主富贵,事业横成。

“ Hỏa Linh giáp Mệnh vi bại cách”, người sinh năm Dần Ngọ Tuất nếu được Hỏa Linh giáp Mệnh Thân cung, chính tinh bản Mệnh không tốt, lạc hãm, hay Hóa Kị, hoặc có hung sát, thì là bại cách, một đời gặp hung, nghèo khó chết yểu. Nếu chính tinh miếu vượng hội cát tinh, thì chủ một đời không thuận, lắm tiểu nhân, nhưng chưa đến mức là đại hung. Nếu Tham Lang cư Mệnh có Hỏa Linh giáp, thì luận là tốt, chủ phú quý, sự nghiệp hoạnh thành.

      4 、火铃旺宫,亦为福论,此二星入庙独坐,叁合方及对宫诸星庙旺加吉,或贪狼在对宫,亦有富贵之人,唯福不全美,或是身体有伤残,或是幼时多灾难养,或离祖过房,或刑克妻子,不一而足。

Hỏa Linh ở vượng cung, cũng luận là phúc, hai sao này nhập miếu độc thủ, các sao ở tam hợp và đối cung đều miếu vượng hội cát tinh, hoặc Tham Lang ở cung đối, cũng là người phú quý, chỉ có điều phúc không hoàn toàn đẹp, hoặc thân thể có thương tật, hoặc khi nhỏ lắm tai họa khó nuôi, hoặc rời xa tổ tiên cho làm con nuôi, hoặc hình khắc thê tử….

      5 、火铃相遇,寅午戌入庙,加吉富贵扬名,财运突发,但骄横跋扈,小人得势,犹如癩狗长毛。
Hỏa Linh gặp nhau, nhập miếu ở Dần Ngọ Tuất, hội cát tinh thì phú quý nổi danh, tài vận đột ngột phát, nhưng kiêu ngạo ngang ngược, tiểu nhân được thể.

      6 、火星铃星加见廉贞、七杀、破军、擎羊必有严重的血光之灾,并主阵亡或凶死。
Hỏa Linh hội kiến Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân, Kình Dương tất có tai nạn chảy máu, cũng chủ chết trận hoặc chết thảm.

      7 、火铃陷宫会羊陀,幼年多灾病,恐夭折,必过继与人重拜父母方可活命。此类组合一生多灾多难,六亲缘薄,或遭暴病横祸而亡身,并易沦为罪犯,有牢狱之厄或被枪毙。
Hỏa Linh hãm cung hội Dương Đà, khi nhỏ lắm bệnh tật, e chết yểu, tất cho làm con nuôi hay nhận bố mẹ nuôi thì có thể sống. Tổ hợp sao loại này một đời hay tai nạn khó khắn, lục thân duyên bạc, hoặc vì bạo bệnh tai họa bất ngờ mà chết, cũng dễ phạm tội, có tai ách ngục tù hoặc bị xử bắn.

      8 、女命命宫有火铃,与亲人不和,心恶毒,不守妇道,多是非。若火铃庙旺守命加吉,纵富贵亦主骄横,居陷地,若不贫贱亦必淫邪。总之女命遇铃火擎羊为下格,庙旺尤可,陷地下贱,贫穷夭折。

Nữ mệnh cung Mệnh có Hỏa Linh, bất hòa với người thân, tâm địa ác độc, không thủ đạo làm vợ, lắm thị phi. Nếu Hỏa Linh miếu vượng thủ Mệnh hội cát tinh, thì dù phú quý cũng chủ ngang tàng, cư hãm địa, nếu không nghèo hèn tất dâm tà. Tóm lại nữ mệnh hội Hỏa Linh Kình Dương là hạ cách, miếu địa hạ tiện, nghèo khó chết yểu.

ST

NHÀ TƯỚNG SỐ VŨ TÀI LỤC

0

Nhà tướng số Vũ Tài Lục

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Bài này trích từ Tuần báo Vietweekly, của tác giả Vũ Công Lý

“Nhà Tướng Số Vũ Tài Lục theo như tôi biết và tác phẩm “Tử Vi Tinh Điển” mới trình làng”
-VŨ CÔNG LÝ-

“……

Khoảng cuôái năm 1976, …của tác giả Vũ Tài Lục, viết khi đang tạm trú trong một trại Tỵ nạn …ở vùng Đông Nam Á và gởi sang cho tờ Hồn Việt ở California. Ký ức hiện giờ của tôi vẫn còn nhớ rất rõ tấm hình chụp ông mặc quần sà-lỏn ngồi chồm hổm cúi nhìn như canh chừng nồi nước đang được đun bằng mấy nhánh củi trên một cái bếp dã chiến được hình thành bằng vài viên gạch. Vũ Tài Lục là một học giả mà danh khí rất lừng lẫy trong giới trí thức ở miền Nam, mấy ai mà chưa từng đọc: Những Khuôn Mặt Tài Phiệt, Thủ Đoạn Chính Trị, Tướng Mệnh Học Khảo Luận, Thân Phận Trí Thức, Nói Chuyện Tam Quốc, v.v… là vài tác phẩm tiêu biểu trong công trình trước tác của ông.
Vài năm sau có người bạn ở tiểu bang khác về California chơi, họ muốn tôi dẫn họ đi gặp nhà tướng số Vũ Tài Lục. Tôi dò hỏi thì biết được điện thoại và địa chỉ của ông. Vào ngày hẹn, tôi chở người bạn đến nhà ông trước giờ hẹn khoảng 10 phút, đứng trước cửa đợi đúng giờ hẹn thì mới dám giơ tay ấn chuông. Sau khi quan sát ông xem tướng và giải lá số Tử Vi của người bạn, thì tôi xin cái hẹn cho chính tôi vào vài ngày sau.
Tôi trở lại gặp ông đúng y như hẹn, sau khoảng mười phút trao đổi ngắn ngủi giữa nhà tướng số và thân chủ, bỗng dưng ông đứng lên và mời tôi trở ra căn phòng nhỏ ngay sát cửa chính ra vào. Sau khi ra dấu mời tôi ngồi xuống ghế, ông lửng thững bước vài ba bước vào bếp đun nước, khi nước đã sôi ông đem bình nước ra bàn vừa pha trà vừa trò chuyện trong cung cách thân mật hơn lúc còn ngồi ở phòng khách bên trong. Tôi âm thầm quan sát những dị tướng của ông: bộ xương sọ khá to, đôi cánh tay cũng hơi dài bình thường so với kích thước toàn thân, khi nói chuyện đôi mắt hơi nhướng lên v.v… Tôi còn nhớ lời tâm tình của ông:
– Tôi thích khoa tướng mệnh hơn, tôi chỉ mới để ý đến bộ môn Tử Vi khoảng hai năm trước khi ….Trước kia tôi thường đi với cụ Diễn để nghiên cứu, học hỏi thêm về tướng học… Tôi thường theo Cụ vào nhà xác của những nhà thương để nghe cụ giảng giải về nét tướng của những người vừa mới qua đời…
Rồi ông thuật lại một vài giai thoại thần kỳ về cụ Diễn mà chính ông chứng kiến, và tôi cũng gật đầu nhìn nhận khi ông hỏi tôi đã từng nghiên cứu bộ môn Tử Vi. Vừa châm thêm nước trà vào những cái tách hột mít, đột nhiên ông hỏi:
– Cậu nghĩ sao về cách Cự Cơ Mão Dậu?
– Em nói chung chung không được, phải rõ ngày giờ sinh thì mới nói cụ thể được!
Nghe tôi trả lời như thế, thì ông đưa ra một ngày giờ sinh nào đó, và tôi cũng dựa vào đó để tính nhẩm lá số ra trong đầu, sau khi cân nhắc ngẫm nghĩ một hồi thì tôi nói cho ông biết những nhận định của tôi. Trò chuyện thêm một lúc nữa, tôi xin phép kiếu từ.
Đầu thập niên 1980, tinh thần kỳ thị người Việt được cơ hội tốt để bột phát qua biến cố ‘bệnh lao phổi’ được phát hiện qua một vài em học sinh Việt Nam có dương tính trong thử nghiệm, do đó Cộng đồng Việt Nam Tỵ nạn phải tìm cách đối phó. Trong một buổi hội thảo tại một phòng họp tại nhà thờ Santa Barbara góc đường Euclid và McFadden vào một buổi chiều cuối tuần, tôi thấy trên bàn chủ tọa có những vị như cố Giáo sư Phạm Kim Vinh, cựu Đại tá Trần Minh Công, Bác sĩ Vũ Đình Minh (chuyên gia về Phổi), một vài vị nữa và ngồi cuối đầu bàn bên phải là nhà Tướng số Vũ Tài Lục. Ngoài trời nóng bức, tôi đứng dựa lưng vào bức tường ở cuối phòng theo dõi không khí phát biểu rất sôi nổi trong một phòng hội đông nghẹt người. Có lẽ do sự nồng nhiệt quá đáng của một vài người tham dự nên không khí dần dà trở thành mất trật tự, hỗn loạn, mạnh ai nâáy nói, không ai nhường ai. Bất chợt một người đứng cách tôi độ một thước, dơ cao cánh tay, miệng nói lớn: “Please, first come, first serve!”. Vừa mới dứt câu thì năm sáu người trong nhóm “Người Việt Áo Đen” do cựu Thiếu tá Biệt Động Quân Đặng Giang Sơn, Trung tâm trưởng Trung tâm Người Việt Quốc Gia ở Santa Ana lãnh đạo, nhào vô bắt đầu hành hung anh chàng đó, có người còn buột miệng chửi: “Đ.M. bày đặt nói tiếng Mỹ!” Sau khi không khí lắng dịu dần, nhìn lên bàn chủ tọa thì tôi thấy chiếc ghế thì còn, mà nhà Tướng số Vũ Tài Lục đã biến từ hồi nào! Và cũng từ đó, tôi không thấy ông hiện diện ở bất cứ buổi tụ tập đông đảo nào trong những sinh hoạt cộng đồng ở vùng Bônsa. Còn anh chàng suýt bị bề hội đồng đó, vốn là một sinh viên du học ở Mỹ năm 1969 về ngành cơ khí, hiện nay là me-sừ Simon Nguyễn, đang điều hành một văn phòng dịch vụ trên đường Bônsa.
Khoảng năm 1987, đang đi trên xe với anh Trần Thụy Ly trên đường Golden West đến gần ngã tư Warner, thì anh Ly rủ tôi ghé thăm “anh Lục”. Không bận rộn gì, tôi gật đầu. Anh Trần Thụy Ly, hồi xưa có lúc làm Trưởng ty cảnh sát quận Nhì, vai vế cấp dưới trong quân đội, ‘đàn em’ thân thiết với ông Nguyễn Cao Kỳ (tuổi Canh Ngọ – 1930), nên coi cố Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, nhà Tướng số Vũ Tài Lục, cả hai vị này cũng thuộc tuổi Canh Ngọ, là những người anh. Sau khi trao đổi đủ thứ chuyện khoảng hai tiếng đồng hồ, trước khi ra về, tôi chợt nhớ lại buổi hội thảo về “bệnh lao phổi” và hỏi ông Lục về sự rời bỏ bàn chủ tọa bất chợt của ông, thì được trả lời:
– Làm sao mà tiếp tục sinh hoạt trong một không khí như thế! Tôi cũng muốn đóng góp vào việc xây dựng cộng đồng, nhưng sẽ mất rất nhiều thời giờ rồi cũng không đi đến đâu, chẳng thà ngồi ở nhà viết sách ghi lại những nhận định của mình về lịch sử cận đại. Mình cứ viết, những thế hệ sau ai đọc thì đọc, có lẽ như thế tôi thấy có ích hơn!
Vừa bước ra khỏi cửa, thì ông Lục chợt hỏi tôi:
– Toa có biết ai giỏi về dịch lý ở hải ngoại không?
Bất chợt tôi không nghĩ ra ai nên đứng thừ ra ấp úng:
– Em không rõ nữa… có mấy người ở tiểu bang khác, và ở nước khác, còn ở vùng này… À, nhớ ra rồi có Bác sĩ Thọ.
– Có phải Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ hồi xưa dạy môn Trung Dung ở Văn Khoa phải không?
– Đúng! Ổng hiện ở Costa Mesa. Anh có muốn gặp ổng không?
– Nếu tiện thì nhờ toa sắp xếp dùm.
– Chuyện nhỏ! Để em liên lạc rồi có gì sẽ cho anh hay.
Trên đường về, anh cò Ly lên tiếng mắng mỏ tôi:
– Lần sau em đừng có hút thuốc lá trong nhà anh Lục, hồi nãy anh sợ quá khi thấy mày rút thuốc ra đốt, anh định lên tiếng cản nhưng thấy anh Lục cười cười, không nói gì thì anh lại thôi, để xem sao! Lý phải biết là bạn bè anh Lục, ngay cả anh Kỳ, anh Loan v.v… đều biết tính anh Lục, nên không dám hút thuốc lá trước mặt anh, vì anh không chịu nổi thuốc lá! Có lần anh quát đuổi thẳng cẳng mấy nhà văn, nhà thơ lỡ châm lửa mồi thuốc lá trong nhà anh!
Nghe anh Ly nói, tôi thấy mình bậy quá xá, tôi đâu chỉ hút một điếu, mà đã đốt liên miên hết điếu này sang điếu khác cỡ gần một gói chứ ít sao. Thảo nào ông Lục đã phải đứng lên mở cánh cửa thông ra sân sau nhà, vì phòng khách vốn nhỏ hẹp lại còn đầy sách vở xếp chật cả lối đi, lại còn bốc mờ mịt khói thuốc lá!
Vài ngày sau tôi ghé lại đón ông Lục chở đến nhà bác sĩ Thọ nằm ở đường Baker vùng Costa Mesa. Sau khi chào hỏi, bác sĩ Thọ liền vào phòng trong mang ra 14 bộ bản thảo dầy cộm, mỗi bộ dầy cả gần ngàn trang, viết bằng loại giấy mỏng dính đặt trên chiếc bàn trước mặt ông Lục. Ông Lục vừa nói chuyện nhưng tay thì lật thật lẹ mắt liếc qua từng trang một. Xong một quyển thì ông lại nhâm nhi vài ngụm nước trà tàu, trao đổi vài ba câu với bác sĩ Thọ, rồi lại tiếp tục như thế cho đến quyển cuối cùng. Sau đó, ông sắp xếp lại bộ sách cho ngay ngắn xong đẩy sang một góc bàn, rồi ông hỏi:
– Trong những phương pháp coi bói dịch, Ngài thích phương pháp nào nhất?
– Tôi chỉ chuyên tâm nghiên cứu về những nguyên lý vận hành trong vũ trụ, chứ không biết bất cứ một môn bói toán nào. Nhà tôi có nghiên cứu Tử Vi, nhưng lại không thích bói dịch… Tôi coi dịch lý như một núi vàng, còn bói dịch như một chén cơm, tôi không thể bỏ núi vàng để đi tìm chén cơm!
Ông Lục bật cười ha hả, tôi thấy thú vị trong sự trao đổi này. Họ hoàn toàn thoải mái, không chút khách sáo! Bất chợt trong đầu tôi nẩy ra một nhận xét: cái đầu của ông Lục, bác sĩ Thọ, và giáo sư Nghiêm Xuân Hồng sao mà bự quá vậy? Mà đầu của bác sĩ Thọ to nhất, to như cái đấu.
– Mặc dù sách chưa đem in, nhưng nếu ngài muốn nghiên cứu thì Ngài cứ việc đem về thong thả đọc, khi nào xong thì gửi lại cho tôi!
– Cám ơn bác sĩ. Khi nẫy nhìn thoáng qua bộ sách của Ngài, tôi thầm tiếc rằng tôi gặp ngài quá muộn, vì để tiêu hóa bộ sách này có lẽ phải cần ba bốn chục năm, hoặc cả một kiếp người chứ không ít. Chẳng hạn như…
Nói tới đó, ông Lục nhấc lên vài quyển ở trên rồi lôi ra một quyển, lật đi lật lại hai ba lần rồi ngừng ở một trang, xong xoay ngược hướng mặt chữ về phía bác sĩ Thọ, nói:
– Chẳng hạn như đoạn này, bác sĩ viết quá tuyệt vời.
Tôi rùng mình ớn lạnh, làm sao mà trước mắt tôi, ông Lục là thần thánh hay sao mà ông lại ghi nhận chính xác như vậy. Đúng là những bậc dị nhân… Ông Lục lại tiếp:
– Rất cảm ơn bác sĩ đã bỏ thời giờ tiếp tôi. Tôi xin phép kiếu từ…
Rồi hai người xin số điện thoại của nhau để liên lạc trực tiếp. Khoảng hai năm sau, tôi tạt ngang thăm bác sĩ Thọ, bất chợt hỏi:
– Sao bác, ông Lục với bác có liên lạc gì không?
– Thỉnh thoảng, chúng tôi vẫn nói chuyện với nhau, thú vị lắm. Đôi khi tôi ghé thăm ông, lúc thì ông ghé thăm tôi.
Một ngày hè, có lẽ cũng khoảng 10 năm rồi, tôi ghé nhà tư gia của anh chị Bùi Xuân Hiến & chị Đặng Tuyết Mai chơi, tôi thấy Nguyễn Cao Kỳ Duyên và khoảng hai chục ca nghệ sĩ, người thì đang bơi, người thì đang ăn thịt nướng, họ đang tíu tít vui nhộn ngoài hồ tắm. Tôi cũng ra làm một vài miếng thịt, rồi trở vào trong nhà rót ly cà phê nóng, dở tờ báo ngồi đọc ở bàn ăn, chị Mai thì đang lui cui làm thêm những món ăn, bất chợt chị lên tiếng hỏi:
– Cậu có bao giờ đi coi ông Lục chưa?
– Có, em đi coi ông lâu lắm rồi, cách đây mười mấy năm.
Rồi tôi thuật lại cho chị nghe cái buổi gặp gỡ ngắn ngủi giữa tôi và ông Lục. Khi nghe tôi kể xong về câu hỏi “Cự Cơ Mão Dậu” của ông Lục, thì chị bật cười:
– Cậu không biết à! Ngày giờ sinh của ông Lục đó!
Nghe thế, tôi bật ngửa! Lẽ ra tôi phải tinh ý, phải biết trước từ dạo đó! Nhà tướng số Vũ Tài Lục là một đồng chí thân thiết với thân phụ của bà Đặng Tuyết Mai, là Cụ Đặng Trần Học, trong giai đoạn chống Pháp cách đây hơn nửa thế kỷ trước, nên bà rất kính trọng ông Lục, gọi ông là “Cậu Lục”. Nguyễn Cao Kỳ Duyên thì gọi là “Ông Cậu Lục”, Kỳ Duyên rất thông minh, cũng thích tìm hiểu khoa Tử Vi, không biết dạo này đã lãnh hội được bao nhiêu ‘thành công lực’ Tử Vi Đẩu Số từ Ông Cậu Lục rồi?
Thỉnh thoảng, tôi cũng gặp nhà Tướng số Vũ Tài Lục ngoài phố, lần nào ông cũng lịch sự nhắc: “Khi nào rảnh, toa tới moa chơi.” Và lần nào tôi cũng lúng ta lúng túng hứa là sẽ đến thăm ông, hứa thì hứa quá nhiều lần nhưng tôi cũng không dám tới vì vẫn còn rét cái vụ phì phà thuốc lá hồi xưa. Anh Mai Trọng Lý, mà anh em văn nghệ sĩ gọi một cách rất thân thương là “Lý Muối”, vì hồi trước1975 ông kinh doanh trong ngành sản xuất muối, là bạn thân và thường đến đón ông Lục ra phố, vì bản tính của ông Lục thích ở nhà đọc sách, viết sách, nghiên cứu y dược v.v… chứ không thích giao du với thiên hạ. Thỉnh thoảng, anh Lý Muối lại thỏ thẻ với tôi: “Ông Lục ông qúi toa lắm, sao toa không tới thăm ông?”. Nghe nói thế, tôi lại càng bối rối tợn trong lòng, mình nhỏ tuổi hơn mấy ông nhiều mà cứ tiếp tục vô phép hoài thế sao? Nhưng biết làm sao? Bản tính của tôi lấc ca lấc cấc, ăn nói và sống chẳng khác gì một kẻ bị ‘Bônsa nguyền rủa, làng báo khinh’, tôi chỉ thoải mái ở ngoài đường phố, ngược lại cảm thấy gò bó, co cụm, rất khó thở (vì thiếu khói thuốc lá) khi phải bước chân vào nhà ai.
Cái bộ môn Tử Vi dường như có ma lực, như một thứ “Sinh Tử Phù”, ai mà lỡ dính vào rồi thì nó cứ luẩn quẩn trong đầu óc. Cụ Anh Độ, một nhà lý số kỳ cựu, trước 1975, cụ âm thầm viết hầu hết những bài biên khảo về Tử Vi Lý Số cho Chiêm Tinh gia Huỳnh Liên (người luôn bận rộn với thân chủ, với những quảng giao trong giới chính trị, báo chí, văn nghệ sĩ); khi sang Hoa Kỳ, cụ viết Tử Vi hàng năm cho tờ Tiền Phong. Khoảng 15 năm trước tình cờ gặp cụ Anh Độ trong một bữa tiệc có cố Nghệ sĩ Lê Văn – Vũ Bắc Tiến (mặc dù chỉ kém có 2, 3 tuổi nhưng cụ Lê Văn luôn gọi cụ Độ là anh, xưng em), trong bữa tiệc cụ cứ nghiêng đầu trao đổi những chuyện về lý số với tôi. Bẵng đi khoảng một tháng sau khi cụ rời California, tôi nhận được thư viết tay của cụ, nội dung cũng xoay quanh chuyện lý số. Tôi rất lười viết thư nên chỉ gọi điện thoại đáp lễ. Cụ lại viết thư, tôi bắt đầu lờ đi vì tuổi trẻ ham vui. Vài tháng sau tôi trở về California sau một chuyến giang hồ, thì gặp nhà báo Ngọc Hoài Phương báo cho tôi biết rằng cụ Anh Độ đã qua đời, và chuyển cho tôi lá thơ cuối cùng của cụ. Tôi thật xúc động và hơi ân hận vì mặc dù như ngọn đèn sắp tắt, thế mà cụ cũng chịu khó ngồi viết một lá thư dài 27 trang giấy với nét chữ rất bay bướm nhưng gọn, đẹp; nội dung cũng xoay quanh những khúc mắc triền miền về một vài chỗ bí hiểm trong lý số! Cụ Đoàn Hải, cùng khóa 4 với Trung tướng Ngô Quang Trưởng, mà lúc gần ….mới đeo lon Trung tá, sức khỏe bết bát, cứ phải đưa vào emergency hoài, thế mà vẫn tiếp tục nghiền ngẫm về Tử Vi, lại ôm thêm cái món “Thái Ất Thần Kinh” của cụ Trạng Trình nữa! Mỗi lần tôi tạt ngang thăm cụ, thì cụ lại chỉ bức tranh “Phi Mã” trên tường, rồi bức tượng “Bạch Hổ” trên bàn, chép miệng nói: “Cặp Phi Mã và Bạch Hổ này, cậu Lý biết không, đâu có ngờ nó lại giúp tôi hiểu sâu hơn về Phật pháp nhiệm mầu. Tiếc rằng khi biết được thì mình đã ‘gần trời xa đất’ rồi, không còn nhiều thời giờ để nghiên cứu! Đúng là ‘sức người hữu hạn, biển học mênh mông!” Một lần tình cờ gặp cô con gái cụ, tôi hỏi thăm về cụ, thì cô ta cho biết cụ qua đời đã được nửa năm. Sắt thép như tôi mà cũng phải giật thót người lên: “Sao không ai cho tôi hay biết gì cả?”. Cô ta buồn bã trả lời: “Ba em dặn là tuyệt đối không được báo cho ai biết hết! Ba em không muốn làm rộn bất cứ ai!” Tôi thầm cảm phục cái cung cách ra đi nhẹ nhàng, ‘siêu thoát’ đó! Tôi thực sự thương tiếc mãi con người tài hoa mà lại quá sức hiền lành, nhân hậu đó!


Khoảng gần 3 năm trước, vừa bước chân vào Costco ở góc Garden Grove và Euclid, thì gặp Phạm Duy Hùng (con trai Nhạc sĩ Phạm Duy), sau khi trả lời vài thắc mắc của Hùng về lá số tử vi của hắn, thì lại thấy ánh mắt của Đại tá Dương Thái Đồng, trước 75 là Chỉ Huy Phó Pháo Bính và rất nổi tiếng về Tử Vi trong quân đội. Ông Đồng bước tới nở nụ cười quen thuộc, khi ông dơ tay bắt thì tôi “ghẹo” ông bằng câu nói: “Lại Tiểu nhân vấn cát, Quân tử vấn hung” rồi! Đây là câu mà ông “tâm đắc” nhất mỗi khi có dịp bàn luận về khoa học huyền bí. Tôi cũng còn nhớ lời ông tán dương lá số thiên hạ: “Cậu thử nghĩ coi số mạng có ghê không? Lúc tôi là Thiếu tá Tỉnh trưởng, thì Lê Quang Tung mới Trung Úy, nhờ lá số của hắn có… nên chỉ vài năm sau hắn đã đeo lon Đại Tá mà tôi vẫn Thiếu Tá!” (cố Đại tá Lê Quang Tung là Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt, lực lượng trung thành nhất với cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông Tung và người em ông là Thiếu tá Lê Quang Triệu bị nhóm Dương Văn Minh giết chết trong Bộ Tổng Tham Mưu trước khi lực lượng đảo chánh nổ súng vào dinh Gia Long thanh toán triều đại nhà Ngô)… Tôi thấy sắc diện ông Đồng nhợt nhạt, dáng người yếu ớt vì ông đang bị ung thư hoành hành, ông nói rằng mặc dù con cái muốn ông đi du lịch cho khuây khỏa lúc cuối đời, nhưng ông đang ngần ngại không muốn đi vì “bấm số” thấy không “thuận lợi” cho việc đi xa! Nghe ông nói thế, tôi bật cười ha hả, thò tay thăm mạch ông rồi nói: “Thôi, dẹp Tử Vi đi bố ơi! Ung thư thì ung thư, mạch chưa đến nỗi nào, đi chơi thả giàn đi sư phụ, tối thiểu cũng vài tháng nữa…” Ông cười nhưng lòng vẫn chưa yên vì “Tử Vi” còn hành, nên lại hỏi tiếp: “Cậu thấy cách Tử Phá, Long Đức của tuổi Canh Ngọ của tôi trong năm nay có qua khỏi không?”… Sau khi chia tay, tôi lại hứa rằng vài bữa nữa sẽ đến thăm ông, rồi lại ham vui quên bẵng đi, mấy tháng sau nghe tin ông đã qua đời. Sau khi thăm ông ở nhà quàn Peek Family, tôi lại bước qua ngay bên cạnh chia tay cố Nghệ sĩ Duy Khánh đang được thân nhân bạn hữu đưa tiễn vào lò thiêu, ngay sát cạnh căn phòng quàn xác cố Đại tá Dương Thái Đồng!
Sáng hôm nay thứ Bẩy ngày mồng 21 tháng 5, 2005, khoảng hơn 10 giờ sáng, tôi vừa bước chân vào tiệm cà-phê Factory, thì đụng đầu ngay ông Lý Muối và ông Vũ Tài Lục đang đi ra. Ông Lục nắm tay tôi nói:
– Toa cho moa xin địa chỉ để moa gửi tặng quyển sách mới in.
– Em đã mua ở tiệm Tú Quỳnh rồi. Em đọc xong rồi, anh viết hay lắm!
– Toa có thấy gì dở thì cho moa biết, cứ thẳng thắn phê bình!
– Vâng, hôm nào em sẽ đến thăm anh!
Lại quen buột miệng hứa lèo! Đời nào tôi dám bước chân vào nhà ông Lục, nội cái mùi thuốc lá bốc từ quần áo tôi cũng đủ ngộp hơi thiên hạ rồi! Vì lẽ đó đêm nay có được dịp tốt, thì tôi phải ngồi viết lời phê bình tác phẩm Tử Vi Tinh Điển do học giả Vũ Tài Lục sưu khảo, in năm 2005, dầy 372 trang.
Mặc dầu trong phần Lời Dẫn, tác giả viết:
“Cuốn sách này chỉ diễn dịch cho rõ ràng cổ nghĩa đã ghi ở các bài phú câu phú của cổ nhân mà thôi.

Số với lý phải gắn liền
Số thiếu lý thì số khó đứng vững.
Ngoài ra là ít nhiều tìm tòi về những sao có ghi trong sách vở bên Trung Quốc mà không hề được nhắc tới khi khoa Tử Vi truyền qua nước ta như: Âm sát, Quan sát, Tuế dịch, Phan án, Tức thần, Thiên sát, Chi bối, Nguyệt sát, Vọng thần…”
Nhưng sau đi đọc thật kỹ nhiều lần quyển Tử Vi Tinh Điển, tôi nhận thấy rằng học giả Vũ Tài Lục đã chịu khó viết ra những nhận định hết sức mới mẻ, cống hiến cho độc giả những kinh nghiệm thực tiễn, những ‘bí quyết’ lạ lùng, có lẽ do công phu âm thầm nghiền ngẫm triền miên, nên mới phát hiện ra sau hơn 30 năm trời ròng rã tiếp xúc với đủ mọi hạng thân chủ tìm đến ông từ khắp bốn phương trời. Theo thiển ý, Tử Vi Tinh Điển là một tác phẩm không thể thiếu được trên bàn đọc hàng ngày của những người muốn tham cứu về Tử Vi. Bấy lâu nay, tôi cứ nghĩ ông Vũ Tài Lục thuộc hạng “Lục lục thường tài”, hoặc giả chỉ có 6 thứ tài, nhưng sau khi đọc xong bộ Tử Vi Tinh Điển thì tôi mới biết là mình đã quá sức nhầm lẫn. Đúng là “Trời đã sinh Lý… toét mà còn sinh ra cụ Vũ Tài Lục”.
Vì số trang báo mà Viet Weekly dành cho tôi có giới hạn, nên tôi đành phải tạm ngưng ở đây vì bài viết đã quá dài. Xin trân trọng giới thiệu đến qúi vị độc giả Viet Weekly một tuyệt tác trong lãnh vực khoa học huyền bí: Tử Vi Tinh Điển do Nhà Tướng Số Vũ Tài Lục sưu khảo!ª”
ST

TỬ VI CỔ QUYẾT SƯU TẦM

0

Tử Vi cổ quyết sưu tầm

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Tử Vi Đẩu Sổ đoán quyết

Tử Phủ nhị chủ tuy phú quí
Bất phùng Lộc tinh chung nan hiển
Cơ Âm văn tinh vong ân nhân
Bác sĩ phùng văn chủ thông minh
Lộc Tồn nhập quan phòng bài tễ
Song Lộc giáp mệnh tài bất khuyết
Nhân từ chi tinh kị phùng sát
Đương phòng biến tiết tịnh hữu trá
Đế lạc Nô vị chủ bôn ba
Cự phùng Dương Đà chủ tà dâm
Việt Phá Toái kiêm Đà La
Quí nhân vô lực sự bất thành
Thiên Phủ gia sát phi quân tử
Đế phùng Dương Đà chủ tà
Phủ Tuất phùng Lộc lũy thiên kim
Tọa Lộc hướng Mã danh lợi thu
Thiên Cơ Tỵ Hợi nhược gia sát
Nhân tửu ngộ sự mạc tham bôi
Phá Quân văn diệu mạc cận thủy
Thiên Đồng Kình Dương dị tao thương


Dịch:

Tử vi đẩu số quyết đoán

Tuy phú quý Tử Vi Thiên Phủ
Chưa hiển linh nếu thiếu Lộc tinh.
Cơ Âm, văn diệu, bạc tình.
Bác Sĩ, văn diệu thông minh tuyệt vời.

Quan Lộc Tồn phải phòng bãi miễn.
Song Lộc giáp Mệnh thị phú ông.
Nhân từ tinh sợ Sát phùng
Chuyển thành dối trá, hành tung gian tà.

Cự Nhận Đà tà dâm mê muội.
Đế lạc Nô tất chủ bôn ba.
Việt phùng Phá Toái, Đà La
Quý nhân vô lực, khó mà thành công.

Phủ hội sát khó thành quân tử.
Đế Nhận Đà tất đúng tà nhân.
Phủ Lộc Tuất vị phú ông.
Tọa Lộc hướng Mã thành công danh, tài.

Cơ Tỵ hợi, sát tinh, ham rượu.
Phá, văn tinh, rất dễ thủy tai.
Thiên Đồng, Dương Nhận bi ai
Vì hay thương tích, nạn tai trong đời.

Nguyên văn:

斗數總訣

希夷仰觀天上星,
作為斗數推人命,
不依五星要過節,
只論年月日時生.

先安身命次定局,
紫微天府佈諸星,
劫空殤使天魁鉞,
天馬天祿帶煞神.

前羊後陀併四化,
紅鸞天喜火鈴刑,
二主大限併小限,
流年後方安斗君.

十二宮分詳廟陷,
流年禍福此中分,
祿權科忌為四化,
唯有忌星最可憎.

大小二限若逢忌,
未免其人有災迍.
科名科甲看魁鉞,
文昌文曲主功名.

紫府日月諸星聚,
富貴皆從天上生;
羊陀火鈴為四煞,
沖命沖限不為榮.

殺破貪狼俱作惡,
廟而不陷掌三軍;
魁鉞昌加無吉應,
若還命限陷尤嗔.

尚有流羊陀等宿,
此與太歲從流行,
更加喪吊白虎湊,
殤使可以斷生死.

若有同年同月日,
禍福何有不準乎?
不準俱用三時斷,
時有差遲不可憑.

此是希夷真口訣,
學者需當仔細精,
後具星圖併論斷,
其中部訣最分明,

若能依此推人命,
何用琴堂講五星?

Phiên âm Hán-Việt:

Đẩu số tổng quyết

Hi Di ngưỡng quan thiên thượng tinh
Tác vi đẩu số thôi nhân mệnh
Bất y ngũ tinh yếu quá tiết
Chỉ luận niên nguyệt nhật thời sinh.

Tiên an thân mệnh thứ định cục
Tử Vi, Thiên Phủ bố chư tinh
Kiếp, Không, Thương, Sứ, Thiên Khôi Việt
Thiên Mã, Thiên Lộc đái sát thần.

Tiền Dương hậu Đà tính tứ hóa
Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hỏa, Linh, Hình
Nhị chủ đại hạn tính tiểu hạn
Lưu niên hậu phương an Đẩu Quân

Thập nhị cung phần tường miếu hãm
Lưu niên họa phúc thử trung phần
Lộc, Quyền, Khoa, Kị vi tứ hóa
Duy hữu Kị tinh tối khả tăng.

Đại tiểu nhị hạn nhược phùng Kị
Vị miễn kỳ nhân hữu tai truân
Khoa danh khoa giáp khán Khôi Việt
Văn Xương, Văn Khúc chủ công danh.

Tử Phủ Nhật Nguyệt chư tinh tụ
Phú quý giai tòng thiên thượng sanh
Dương Đà Hỏa Linh vi tứ sát
Xung mệnh xung hạn bất vi vinh.

Sát Phá Tham Lang câu tác ố
Miếu nhi bất hãm chưởng tam quân
Khôi Việt Xương gia vô cát ứng
Nhược hoàn mệnh hạn hãm vưu sân.

Thượng hữu lưu Dương Đà đẳng túc
Thử dữ Thái Tuế tòng lưu hành
Cánh gia Tang Điếu Bạch Hổ thấu
Thương Sứ khả dĩ đoán sinh tử.

Nhược hữu đồng niên đồng Nhật Nguyệt
Họa phúc hà hữu bất chuẩn hồ?
Bất chuẩn câu dụng tam thời đoán
Thời hữu sai trì bất khả bằng.

Thử thị Hi Di chân khẩu quyết
Học giả như đương tử tế tinh
Hậu cụ tinh đồ tính luận đoán
Kỳ trung bộ quyết tối phân minh.

Nhược năng y thử thôi nhân mệnh
Hà dụng cầm đường giảng ngũ tinh?


Dịch nghĩa:

Đẩu số tổng quyết

Ngài Hi Di ngẩng đầu ngắm sao trên trời,
Tạo ra môn Đẩu Số để suy đoán mệnh người,
Không giống với (môn) Ngũ Tinh, quá chú trọng đến Tiết khí,
(Mà) Chỉ luận về năm, tháng, ngày, giờ sinh.

Trước tiên an Thân Mệnh, thứ đến là xác định Cục (số),
Bài bố (vị trí của)Tử Vi, Thiên Phủ cùng các sao,
Kiếp, Không, Thương, Sứ, Thiên Khôi, Thiên Việt,
Thiên Mã, Thiên Lộc, (cùng với) dải các thần sát.

Trước an Kình dương, sau an Đà La, cùng với cả Tứ Hóa,
Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình,
Nhị chủ (có lẽ là “mệnh chủ” và “thân chủ”), đại hạn cùng tiểu hạn,
Lưu niên, sau đó thì an Đẩu Quân (có lẽ nhấn mạnh L. Thái Tuế).

Ở mười hai cung phận, phải tỏ tường miếu hãm (của sao),
Lưu niên họa phúc ở trong cung phận nào,
Lộc Quyền Khoa Kị là Tứ Hóa,
Chỉ có Hóa Kị là rất đáng ghét.

Đại hạn, tiểu hạn nếu gặp Hóa Kị,
Người ta khó mà tránh việc phải gặp tai ách, gian truân,
Khoa danh, khoa bảng (chuyện học hành) thì xem ở Khôi Việt,
Văn Xương, Văn Khúc (vì chúng) chủ về công danh,

Tử Phủ Nhật Nguyệt cùng các (cát) tinh tụ hội,
(Được) phú lẫn quý thì cũng là theo sự sắp đặt của trời,
Kình, Đà, Linh, Hỏa là tứ sát,
Xung vào mệnh, xung hạn, thì không được vinh hoa.

Sát Phá Tham chuyên làm chuyện (ác) đáng ghét,
Khi miếu thì (làm tướng) đứng đầu chấp chưởng ba quân,
Thêm Khôi Việt, Văn Xương mà không có cát tinh ứng trợ,
Nếu gặp tại Mệnh, tại hạn hãm thì mắc sai lầm, giận dữ, không xứng ý toại lòng.

Còn Lưu Kình Đà mà có hoặc đón chờ (tại hạn ấy),
Cùng với Thái Tuế lưu hành (L. Thái Tuế),
Thêm Tang, Điếu, Bạch Hổ, tụ tập lại,
(Có) Thương, Sứ, thì có thể đoán được chuyện sống chết.

Nếu như cùng cùng năm cùng tháng ngày (sinh),
(Thì) Họa phúc không có chuẩn (đúng) hay sao?
Không chuẩn đều dùng ba giờ (mà) đoán
Giờ (mà) có sai, chậm thì không thể (coi là) bằng chứng được.
(QNB chú: có lẽ muốn rằng lấy thêm 2 giờ xung quanh giờ sinh mà xem cho kỹ)

Đó chính là khẩu quyết của Hi Di,
Người học cần phải nhận biết, kỹ lưỡng, thật tinh.
Sau bày đủ tinh đồ (bản đồ các sao) mà luận đoán,
Trong đó (có) yếu quyết từng bộ phận rất rõ ràng hiển nhiên.

Nếu như sử dụng môn này mà đoán nhân mệnh,
Thì còn cần dùng phòng nhạc (“cầm đường”) để giảng về môn Ngũ Tinh nữa chăng?

Nguyên văn:

玉蟾發微論
白玉蟾先生日:
觀天斗數與五星不同,
按此星辰與諸術大異.
四正吉星定為貴,
三方煞拱少為奇;
對照兮詳兇詳吉,
合照兮觀賤觀榮.
吉星入垣則為吉,
兇星失地則為兇.
命逢紫微, 非特壽而且榮;
身遇煞星, 不但貧而且賤.
左右會於紫府, 極品之尊;
科權陷於凶鄉, 功名蹭蹬.
行限逢乎弱地, 未必為災;
立命會在強宮, 必能降頑.
羊陀七殺, 限運莫逢, 逢之定有刑傷;
天哭喪門, 流年莫遇, 遇之實防破害.
南斗主限必生男,
北斗加臨先得女.
科星居陷地, 燈火辛勤;
昌曲在弱鄉, 林泉冷淡.
奸謀頻設, 紫微愧遇破軍;
淫奔大行, 紅鸞差逢貪宿.
命身相剋, 則心亂而不閒;
玄媼三宮, 則邪淫而耽酒.
煞臨三位, 定然妻子不和;
巨到二宮, 必是兄弟無義.
刑煞守子宮, 子難奉老;
諸凶照財帛, 聚散無常.
羊陀守疾厄, 眼目昏盲;
火鈴到遷移, 長途寂莫.
尊星列賤位, 主人多勞;
惡星應命宮, 奴僕有助.
官祿遇紫府, 富而且貴;
田宅遇破軍, 先破後成.
褔 德遇空亡劫, 奔走無方;
相貌加刑煞, 刑剋難免.
後學者執此推詳, 萬無一失.

Phiên âm Hán-việt:

Ngọc Thiềm phát vi luận

Bạch ngọc thiềm tiên sinh nhật:

Quan thiên đẩu số dữ Ngũ Tinh bất đồng,
án thử tinh thần dữ chư thuật đại dị.

Tứ chính cát tinh định vi quý,
tam phương sát củng thiểu vi kỳ;
đối chiếu hề tường hung tường cát,
hợp chiếu hề quan tiện quan vinh.

Cát tinh nhập viên tắc vi cát,
hung tinh thất địa tắc vi hung.

Mệnh phùng tử vi, phi đặc thọ nhi thả vinh;
thân ngộ sát tinh, bất đãn bần nhi thả tiện.

Tả hữu hội ư tử phủ, cực phẩm chi tôn;
khoa quyền hãm ư hung hương, công danh thặng đặng.

Hành hạn phùng hồ nhược địa, vị tất vi tai;
lập mệnh hội tại cường cung, tất năng hàng ngoan.

Dương đà thất sát, hạn vận mạc phùng,
phùng chi định hữu hình thương;
thiên khốc tang môn, lưu niên mạc ngộ,
ngộ chi thực phòng phá hại.

Nam đẩu chủ hạn tất sinh nam,
bắc đẩu gia lâm tiên đắc nữ.

Khoa tinh cư hãm địa, đăng hỏa tân cần;
xương khúc tại nhược hương, lâm tuyền lãnh đạm.

Gian mưu tần thiết, tử vi quý ngộ phá quân;
dâm bôn đại hành, hồng loan sai phùng tham tú.

Mệnh thân tương khắc, tắc tâm loạn nhi bất nhàn;
huyền ảo tam cung, tắc tà dâm nhi đam tửu.

Sát lâm tam vị, định nhiên thê tử bất hòa;
cự đáo nhị cung, tất thị huynh đệ vô nghĩa.

Hình sát thủ tử cung, tử nan phụng lão;
chư hung chiếu tài bạch, tụ tán vô thường.

Dương đà thủ tật ách, nhãn mục hôn manh;
hỏa linh đáo thiên di, trường đồ tịch mạc.

Tôn tinh liệt tiện vị, chủ nhân đa lao;
ác tinh ứng mệnh cung, nô bộc hữu trợ.

Quan lộc ngộ tử phủ, phú nhi thả quý;
điền trạch ngộ phá quân, tiên phá hậu thành.

Phúc đức ngộ không vong kiếp, bôn tẩu vô phương;
tương mạo gia hình sát, hình khắc nan miễn.

Hậu học giả chấp thử suy tường, vạn vô nhất thất.

Dịch nghĩa:

Sự khai mở về cách luận của Bạch Ngọc Thiềm tiên sinh.

Xem thấy Đẩu Số với môn Ngũ Tinh có điểm không giống nhau,
từ đây ta thấy về tinh thần cơ bản nó khác nhiều với các thuật khác.

Xét tứ chính thấy cát tinh thì định là quý,
Tam phương mà sát tinh vây chiếu thì kém đẹp;
Cung đối chiếu cho biết hung, biết cát,
cung hợp chiếu cho biết tiện hay là vinh.

Cát tinh nhập mệnh viên (miếu đắc) thì sẽ được cát lợi,
hung tinh mà hãm địa thì chắc chắn sẽ hung.

Mệnh gặp Tử Vi thì vừa thọ vừa vinh hoa;
Thân gặp sát tinh thì không những bần mà còn tiện.

Tả Hữu hội cùng Tử Phủ thì tôn quý đến cực phẩm,
Khoa Quyền hãm ở chỗ hung thì công danh lận đận.

Hành hạn nếu gặp nơi nhược địa thì chưa hẳn đã gặp tai họa,
lập mệnh ở chỗ cường cung, nhất định sẽ bớt tham lam, ương bướng, ngu dốt.

Vận hạn chớ có gặp Kình Đà Thất Sát, gặp thì tất sẽ bị hình thương,
Lưu niên chớ có gặp Thiên Khốc Tang Môn, gặp thì phải đề phòng vật chất trong nhà bị phá tán.

Nam Đẩu chủ hạn tất sẽ sinh con trai,
Bắc Đẩu lâm hạn thì sẽ sinh con gái.

Khoa tinh cư hãm địa, thì vất vả chăm chỉ đèn sách sớm khuya,
Xương Khúc ở chỗ nhược thì ẩn mình lãnh đạm nơi rừng núi.

Tử Vi gặp Phá Quân thì suốt ngày bày kế hiểm mưu gian,
Hồng Loan gặp (lầm) phải Tham Lang thì hành vi dâm dật.

Mệnh với Thân mà tương khắc thì tâm loạn nên chẳng được nhàn,
Tam cung mà huyền ảo thì tất sẽ tà dâm cùng ham rượu.

Sát tinh lâm vào tam vị, chắc chắc bất hòa với vợ con,
Cự Môn đến nhị cung, thì anh em vô tình vô nghĩa.

Hình sát tinh ở cung Tử Tức, khó có được con chăm sóc lúc già;
Các hung tinh chiếu vào Tài Bạch, thì tiền tụ tán vô thường.

Kình Đà thủ Tật Ách thì mắt kém, mắt đau, mắt mờ,
Hỏa Linh đến cung Thiên Di, thì đường (đời) phía trước sẽ cô đơn vắng vẻ.

Các sao tôn quý bày vào chỗ thấp kém, thì chủ nhân nhiều gian khổ,
ác tinh ứng vào Mệnh cung thì nô bộc có sự tương trợ.

Quan Lộc cung gặp Tử Phủ thì vừa phú vừa quý,
Điền Trạch gặp Phá Quân thì trước phá hết sau mới thành được.

Phúc Đức gặp Địa Kiếp, Không Vong, thì lang thang vô định,
Tướng Mạo mà thêm Hình Sát, thì việc hình khắc là khó tránh được.

Học giả đời sau theo đây mà suy cho rõ, đảm bảo không sai.

Nguyên văn:

玄微論

夷先生曰:

斗數之列眾星, 由大易之分八卦, 八卦非彖繫不明, 五星非講明何措, 是以觀斗數者, 再三審動靜之機.

第一辨賓主之分, 動靜循環不已, 主賓更迭無拘, 主若無情, 何賓之有, 賓不能對, 何足取哉!

愧彼羊陀, 惟視祿存之好惡, 笑吾日月也. 思空劫之興亡, 殺有殺而無刑, 雖殺有救; 刑有刑而易單, 終身不剋.

火星旺宮為富論, 羊陀得令豈凶神? 兩鄰加侮尚可撐持, 同室與謀最難防備.

斤火焚天馬, 重羊逐祿存. 劫空親戚無常, 權祿行藏靡定. 君子哉魁鉞, 小人也羊鈴.

兇不皆兇, 吉無純吉. 主強賓弱, 可保無虞. 主弱賓強, 兇危立見. 主賓得失兩相宜, 限運命身當互見.

身命最嫌羊陀七殺, 遇之未免為兇. 二限甚忌貪破巨貞, 逢之定然作禍. 命遇魁昌當得貴, 限逢紫府定財多.

凡觀女人之命, 先觀夫子二宮, 若值煞星, 定三嫁而心不足, 或逢羊陀, 須啼哭而淚不乾.

若觀男命, 始以福財為主, 再審遷移如何, 二限相因, 吉凶同斷.

限逢吉曜, 平生動用和諧; 命作兇鄉, 一是求謀齟齬.

廉祿臨命, 女德純陰貞潔之德; 同梁守命, 男得純陽中正之心.

君子命中亦有羊陀四殺, 小人命中豈無科祿權星, 要看得垣失垣, 專論入廟失陷.

若論小兒, 詳推童限, 小兒命生兇鄉, 三五歲必然夭折, 更有限逢惡殺, 五七歲必至夭亡.

文昌文曲天魁秀, 不讀詩書也可人. 多學少成, 只為擎羊逢劫殺. 為人好訟, 蓋因太歲遇官符.

命之理微, 熟察星辰之變化; 數之理遠, 細詳格局之興衰. 北極加兇殺, 為道為僧; 命遇兇星, 為奴為僕.

如武破廉貪, 固深謀而貴顯, 加羊陀空劫, 反小志以孤寒. 限輔旺星, 雖弱而不弱; 命臨吉地, 雖兇而不兇.

斷橋截路, 大小難行; 卯酉二空, 聰明發 褔. 命身遇紫府, 疊積金銀; 二主逢劫空, 衣食不足, 謀而不遂.

命限遇入擎羊, 東作西成. 限身遭逢府相科權祿拱, 定為攀桂之高人. 空劫羊鈴, 決作九流術士.

情懷舒暢, 昌曲命身; 詭詐虛浮, 羊陀陷地. 天機天梁擎羊會, 早見刑剋晚見孤. 貪狼武曲廉貞逢, 少受貧而後受 褔.

此皆斗數之奧訣, 學者熟之.


Phiên âm Hán-Việt:

Huyền vi luận

Di tiên sinh viết:

1- Đẩu số chi liệt chúng tinh,
do đại dịch chi phân bát quái,
bát quái phi thoán hệ bất minh,
ngũ tinh phi giảng minh hà thố,
thị dĩ quan đấu sổ giả, tái tam thẩm động tĩnh chi cơ,

2- Đệ nhất biện tân chủ chi phân,
động tĩnh tuần hoàn bất dĩ,
chủ tân canh điệp vô câu,
chủ nhược vô tình, hà tân chi hữu,
tân bất năng đối, hà túc thủ tai!

3- Quý bỉ dương đà, duy thị lộc tồn chi hảo ác, tiếu ngô nhật nguyệt dã.
4- Tư không kiếp chi hưng vong, sát hữu sát nhi vô hình, tuy sát hữu cứu;
hình hữu hình nhi dị đan, chung thân bất khắc.

5- Hỏa tinh vượng cung vi phú luận,
dương đà đắc lệnh khởi hung thần?
6- Lưỡng lân gia vũ thượng khả xanh trì,
đồng thất dữ mưu tối nan phòng bị.

7- Cân hỏa phần thiên mã,
trọng dương trục lộc tồn.
8- Kiếp không thân thích vô thường,
quyền lộc hành tàng mỹ định.
9- Quân tử tai khôi việt,
tiểu nhân dã dương linh.

10- Hung bất giai hung, cát vô thuần cát.
11- Chủ cường tân nhược, khả bảo vô ngu.
12- Chủ nhược tân cường, hung nguy lập kiến.
13- Chủ tân đắc thất lưỡng tương nghi,
hạn vận mệnh thân đương hỗ kiến.

14- Thân mệnh tối hiềm dương đà thất sát, ngộ chi vị miễn vi hung.
15- Nhị hạn thậm kị tham phá cự trinh, phùng chi định nhiên tác họa.
16- Mệnh ngộ khôi xương đương đắc quý, hạn phùng tử phủ định tài đa.

17- Phàm quan nữ nhân chi mệnh, tiên quan phu tử nhị cung,
nhược trị sát tinh, định tam giá nhi tâm bất túc,
hoặc phùng dương đà, tu đề khốc nhi lệ bất càn.

18- Nhược quan nam mệnh, thủy dĩ phúc tài vi chủ,
tái thẩm thiên di như hà, nhị hạn tương nhân, cát hung đồng đoạn.

19- Hạn phùng cát diệu, bình sinh vận dụng hòa hài;
mệnh tác hung hương, nhất thị cầu mưu trở ngữ.

20- Liêm lộc lâm mệnh, nữ đức thuần âm trinh khiết chi đức;
đồng lương thủ mệnh, nam đắc thuần dương trung chính chi tâm.

21- Quân tử mệnh trung diệc hữu dương đà tứ sát,
tiểu nhân mệnh trung khởi vô khoa lộc quyền tinh,
yếu khán đắc viên thất viên,
chuyên luận nhập miếu thất hãm.

22- Nhược luận tiểu nhi, tường thôi đồng hạn,
tiểu nhi mệnh sinh hung hương, tam ngũ tuế tất nhiên yểu chiết,
cánh hữu hạn phùng ác sát, ngũ thất tuế tất chí yểu vong.

23- Văn xương văn khúc thiên khôi tú, bất độc thi thư dã khả nhân.
24- Đa học thiểu thành, chỉ vi kình dương phùng kiếp sát.
25- Vi nhân hảo tụng, cái nhân thái tuế ngộ quan phù.

26- Mệnh chi lý vi, thục sát tinh thần chi biến hóa;
số chi lý viễn, tế tường cách cục chi hưng suy.
27- Bắc cực gia hung sát, vi đạo vi tăng;
mệnh ngộ hung tinh, vi nô vi bộc.

28- Như vũ phá liêm tham, cố thâm mưu nhi quý hiển,
gia dương đà không kiếp, phản tiểu chí dĩ cô hàn.
29- Hạn phụ vượng tinh, tuy nhược nhi bất nhược;
mệnh lâm cát địa, tuy hung nhi bất hung.

30- Đoạn kiều tiệt lộ, đại tiểu nan hành;
mão dậu nhị không, thông minh phát phúc.
31- Mệnh thân ngộ tử phủ, điệp tích kim ngân;
nhị chủ phùng kiếp không, y thực bất túc, mưu nhi bất toại.

32- Mệnh hạn ngộ nhập kình dương, đông tác tây thành.
33- Hạn thân tao phùng phủ tướng khoa quyền lộc củng, định vi phàn quế chi cao nhân.
34- Không kiếp dương linh, quyết tác cửu lưu thuật sĩ.

35- Tình hoài thư sướng, xương khúc mệnh thân;
quỷ trá hư phù, dương đà hãm địa.
36- Thiên ki thiên lương kình dương hội, tảo kiến hình khắc vãn kiến cô.
37- Tham lang vũ khúc liêm trinh phùng, thiểu thụ bần nhi hậu thụ phúc.

Thử giai đẩu số chi áo quyết, học giả thục chi.


Dịch nghĩa:

Luận về huyền vi

Hi Di tiên sinh viết:

1- Đẩu Số bày ra chúng tinh,
Do đại Dịch phân chia thành Bát Quái,
Bát Quái mà thiếu Thoán từ (lời luận đoán) thì cũng chẳng rõ nghĩa,
Ngũ Tinh mà không được giảng giải kỹ thì dùng làm sao được,
Môn xem Đẩu Số này đây, luôn xét đến động tĩnh của cơ trời.

2- Trước tiên phân biệt Chủ-Khách mà xét,
Động-Tĩnh, tuần hoàn không dứt,
Chủ-Khách luân phiên thay đổi chứ không gò bó cố định,
Chủ (nếu) mà vô tình, lẽ nào Khách lại có tình cho được,
Khách mà không thường xuyên ứng đối, thì sao đủ xứng mà dùng làm khách được!

3- Tự thẹn thay Kình Đà, chỉ trông coi tốt xấu của Lộc Tồn, mà (lại dám) cười Nhật Nguyệt ta vậy.
4- Ngẫm về hưng vong của Không Kiếp, sát thì có sát (nhưng) mà không Hình (khắc) cứng nhắc, tuy sát mà lại có thể cứu chữa;
Hình thì có Hình nhưng đơn giản dễ thay đổi, (về lâu dài) cả đời sẽ không khắc.

5- Hỏa tinh ở vượng cung thì luận là phú,
Kình Đà (ở chỗ) đắc lệnh há có còn là hung thần nữa sao?
6- Kẻ hung bạo ở ngay sát vách đôi bên nhà mình thì cũng còn có thể miễn cưỡng chống đỡ lại,
chứ người cùng nhà mà có mưu hiểm đen tối thì thực là khó phòng bị.

7- Cân đo sức nóng (hỏa phần), nghị lực của Thiên Mã,
coi trọng trục (của) Kình Dương Lộc Tồn.
8- Kiếp Không thì (coi) thân thích (là) vô thường,
Quyền Lộc thì định là tác phong cử chỉ tươi đẹp.
9- Quân tử (xét ở) tại nơi Khôi Việt,
tiểu nhân thì (xét ở) Dương Linh (Kình Đà, Linh Hỏa, viết tắt???).

10- Hung thì không có cái gì hoàn toàn hung, Cát thì cũng chẳng có cái gì thuần là cát.
11- Chủ cường Khách nhược, thì có thể đảm bảo là chẳng có gì phải lo ngại.
12- Chủ nhược Khách cường, thì thấy ngay được là hung hiểm nguy hiểm.
13- (Phải xem) Chủ-Khách, chỗ hay chỗ dở, đôi đàng tương ứng đối đãi lẫn nhau,
vận hạn Mệnh-Thân cũng đối đãi tương hỗ lẫn nhau.

14- Thân-Mệnh rất sợ gặp Dương Đà Thất Sát, gặp thì khó tránh được hung hiểm.
15- Nhị hạn tối kị Tham Lang Phá Quân Cự Môn Liêm Trinh, gặp thì nhất định sẽ tác họa.
16- Mệnh gặp Khôi Xương được nhận (quan) Quý, Hạn phùng Tử Phủ xác định đó là lúc đa tài (đến lúc gặp thời để mà được thi thố với đời).

17- Phàm xem mệnh Nữ nhân, trước tiên xem ở hai cung Phu & Tử,
nếu gặp sát tinh, định là nhiều lần xuất giá mà lòng không yên,
hoặc phùng Dương Đà thì đó là khóc con cạn nước mắt.

18- Khi xem Nam mệnh, khởi đầu lấy Phúc & Tài làm chủ,
sau đó xét Thiên Di xem thế nào, nhị hạn (có) nguyên nhân hỗ trợ ra sao, (từ đó mới) cùng đoán ra cát hung như thế nào.

19- Hạn phùng cát diệu thì lúc bình sinh được mọi sự hoạt động hài hòa;
Mệnh lạc đến chỗ hung thì đúng là một thân mưu cầu mà toàn gặp gập ghềnh trở ngại.

20- Liêm Lộc lâm Nữ mệnh thuần âm thì đức hạnh trinh trắng, thanh khiết;
Đồng Lương thủ Nam mệnh thuần dương thì một lòng trung thành, chính trực.

21- Người quân tử thì ở trong cung Mệnh cũng có Dương Đà tứ sát,
Kẻ tiểu nhân thì ai dám bảo là không có Khoa Quyền Lộc ở trong cung mệnh nào,
(Cho nên) trọng yếu phải xem cung viên tốt xấu thế nào,
chuyên sâu luận vào các sao nhập miếu hay lạc hãm.

22- Nếu luận số tiểu nhi, phải suy xét thật tường tận về hạn của trẻ con,
Tiểu nhi mà Mệnh ở chỗ hung, thì dăm ba năm tất nhiên sẽ yểu chiết,
Lại thêm hạn phùng ác sát thì dăm bảy năm nhất định yểu vong.

23- (Có các sao) Văn Xương Văn Khúc Thiên Khôi, chẳng đọc thi thư gì cũng là kẻ có tài.
24- Đa học mà thiểu thành, chỉ vì Kình Dương phùng Kiếp Sát.
25- Làm người giỏi lý lẽ, giỏi tranh cãi, khéo nói, đó là do Thái Tuế ngộ Quan Phù.

26- Cái Lý tinh vi của Mệnh, phải bám sát lấy sự biến hóa của các sao;
Cái Lý sâu xa của Số, phải xem cho tường tận sự hưng suy của cách cục.
27- Sao Tử Vi mà bị gia thêm hung sát tinh thì dễ theo đường tăng đạo;
Mệnh (kém) mà gặp phải hung tinh thì dễ thành thân phận kẻ hầu người hạ.

28- Như Vũ Phá Liêm Tham, có mưu sâu mà quý hiển,
Thêm (vào đó) Dương Đà Không Kiếp thì phản chuyển thành chí nhỏ mà cô đơn, nghèo hèn.
29- Hạn mà hai bên có vượng tinh thì dù hạn có nhược (kém) cũng được cứu giải,
Mệnh lâm vào nơi cát lợi thì dẫu gặp hung cũng chẳng có gì nguy hiểm.

30- Đại tiểu (hạn) khó khăn, gian khổ, khó đi,… là bởi vì “đoạn kiều tiệt lộ” (đây là 1 thành ngữ “đoạn kiều tiệt lộ” có nghĩa đen là “cầu bị chặt gãy, đường bị chặn”, nhưng có thể nghĩa bóng muốn ám chỉ việc hành hạn mà gặp phải Tiệt/Triệt lộ thì đó là coi như bị chặn phá, bị ngáng trở, bị gặp khó khăn,…);
Ở cung Mão Dậu mà gặp nhị Không thì lại là thông minh, phát phúc.
31- Mệnh Thân mà gặp Tử Phủ thì giàu có dồi dào vàng bạc (điệp tích kim ngân);
Nhị chủ (thường chỉ về Mệnh chủ & Thân chủ, nhưng trong trường hợp này thì nên hiểu Nhị Chủ = Tử & Phủ) phùng Kiếp Không thì mưu sự bất toại ý, thiếu ăn thiếu mặc (y thực bất túc).

32- Mệnh hạn mà gặp phải Kình Dương thì làm giả ăn thật, đánh ở đông mà được ở tây (“đông tác tây thành” đây cũng là 1 thành ngữ. Bạn đọc lưu ý chỗ này nên hiểu liền mạch với Mệnh Thân Tử Phủ ở trên thì mới đúng).
33- Hạn Thân mà phùng Phủ Tướng có Khoa Quyền Lộc củng chiếu thì định là người đó sẽ đỗ cao, thăng quan lớn, phát tài lộc,… được vin cành nguyệt quế.
34- (Nếu mà gặp) Không Kiếp Dương Linh, thì quyết đoán là đi theo giới cửu lưu thuật sĩ.

35- Tâm tình dào dạt, thư thả sung sướng, ấy là do Xương Khúc ở Mệnh Thân;
Quỷ quyệt xảo trá, hão huyền chẳng thực, đó là bởi Dương Đà hãm địa.
36- Thiên Cơ Thiên Lương Kình Dương cùng hội, thì lúc nhỏ thời hình khắc (với người thân) về già thời cô độc.
37- Như gặp Tham Lang Vũ Khúc Liêm Trinh, lúc nhỏ thời nghèo khó nhưng về già được hưởng phúc.

Đây đều là những bí quyết sâu xa của môn Đẩu Số, học giả nên nắm vững.

ì 2 câu (mẫu câu kết thúc bằng dấu “chấm”):

29- Hạn phụ vượng tinh, tuy nhược nhi bất nhược;
mệnh lâm cát địa, tuy hung nhi bất hung.

30- Đoạn kiều tiệt lộ, đại tiểu nan hành;
mão dậu nhị không, thông minh phát phúc.

là cùng một mạch ý, đang nói về nơi cư của (lưu) Mệnh trong sự vận hành của hạn. Cho nên theo tôi thì cụm “mão dậu nhị không” ta nên hiểu là nói về cung Mão/Dậu và Tuần Không / Triệt Không thì thuận nghĩa hơn.

Xưa nay ta hay nghe nói “Triệt đáo Kim cung, Tuần lâm (Hỏa/Mộc) địa” thì căn cứ theo như câu này ta thấy được quan điểm của những người nói “Tuần lâm Mộc địa” là chính xác.

Về câu #30, ý muốn nói rằng hành hạn thường gặp khó khăn, ngáng trở,… khi gặp Tuần Triệt án ngữ, nhưng nếu như Tuần ở Mão cung, Triệt ở Dậu cung, thì lại là được thông minh phát phúc chứ không phải lúc nào gặp Không Vong cũng là khó khăn, ngáng trở. Ấy mới là “Động-Tĩnh tuần hoàn không dứt”, “Chủ-Khách luân phiên không gò bó cố định”, “Cái Lý tinh vi của Mệnh là ở sự biến hóa của các sao”, “Cái Lý thâm sâu của Số là ở sự hưng suy của cách cục”,…

Lấy cái tính Không Vong mà nói, thì trục Mão Dậu là định vị phương của Thánh Thần, chư Tiên, Phật,… khi đắc ngộ tính Không ở đúng Thời-Vị thì Tâm tĩnh nên suy nghĩ, kiến giải được thấu đáo, vậy được gọi là thông minh. Suy nghĩ cặn kẽ, kiến giải thấu đáo thì hành động tất sẽ theo đó mà hợp lý hợp tình, thu được quả lợi (gieo suy nghĩ gặt hành vi, gieo hành vi gặt kết quả), như vậy thì được gọi là phát phúc.

Lấy ngũ hành của Tuần Triệt và cung vị mà lý giải thì cũng có được sự hợp lý như vậy, nhưng vì còn có nhiều tranh cãi về hành của Tuần Triệt nên QNB không viết ra đây để tránh các cuộc tranh cãi đi lạc chủ đề.



Ta thử xem, nếu giả sử hiểu là giờ sinh Mão/Dậu và Kiếp/Không thì thế nào nhé:
Sinh giờ Mão Dậu thì Thân cư Di, cặp Kiếp Không chia nhau ra đóng cố định ở 2 cung Dần Thân, được đắc địa.

a, Như vậy mà nói là thông minh phát phúc thì cớ sao Hi Di tiên sinh lại không nhắc gì liên quan đến vị trí Tỵ Hợi vì ở đó Kiếp Không cũng đắc địa? Muốn nhắc đến vị trí Tỵ Hợi của Kiếp Không thì tức là sinh giờ Tí Ngọ, nếu theo cách hiểu này mà muốn nói đến sinh giờ Tí Ngọ Mão Dậu thì để câu phú vẫn được thuận luật bằng trắc, chỉ cần nói “Tứ chính nhị không” (“tứ chính” có 2 âm trắc, mà “mão dậu” cũng là 2 âm trắc).

b, Bên cạnh đó, việc sinh giờ Mão Dậu chỉ cho biết thông tin “Thân cư Di” chứ không đề cập cụ thể Mệnh Thân nằm ở vị trí nào cả. Vậy thì làm sao ta có thể đánh đồng nó vào cùng hệ quy chiếu “Kiếp Không cư cố định ở Dần Thân” mà xét cho được, vì không cùng hệ quy chiếu thì mọi sự so sánh đều không tương quan, chẳng biết đâu mà lần cả. Ví như anh đứng ở dưới đất thì anh bảo cái cây cổ thụ kia cao so với anh, nhưng khi anh đứng trên nóc nhà 10 tầng thì anh bảo cái cây ấy nó thấp so với anh.

Hơn nữa, khi “Thân cư Di” thì tức là Mệnh-Thân thuộc về 2 tam hợp cục tương khắc với nhau (trừ phi Mệnh Thân đóng ở Tứ Mộ cung). Mà “Mệnh Thân tương khắc, tắc tâm loạn nhi bất nhàn” tức là ngay trong bản thân có sự mẫu thuẫn nội tại, lý trí và tình cảm nhiều khi mẫu thuẫn xung đột với nhau, cho nên gọi là “tâm loạn“, khi tâm không tĩnh thì làm sao mà nhàn nhã cho được. Như vậy thì làm sao mà nói có thể phát phúc được (thông minh thì có thể).

Từ a, và b, thì sẽ kết luận được rằng, ta không nên hiểu “mão dậu nhị không” ở đây là “sinh giờ Mão Dậu” & “nhị không = Kiếp Không” (ít nhất là trong khuôn khổ bài phú này).

ST

SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ TỬ VI TRUNG HOA NÓI CHUNG VÀ TRUNG CHÂU PHÁI NÓI RIÊNG

0

Sơ lược về lịch sử Tử vi Trung Hoa nói chung và Trung Châu Phái nói riêng

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

Chào các bạn, hiện giờ trên thị trường đang rầm rộ 2 quyển sách Trung Châu Tử Vi Tam Hợp Phái, được ông Nguyễn Anh Vũ dịch từ sách của ông Vương Đình Chi, chưởng môn Trung Châu Tam Hợp Phái ở Hồng Kông. Tôi đã đọc qua 2 quyển này và cảm thấy kiến thức trong này rất hay, ứng dụng được khá chính xác khi luận đoán vận hạn (với điều kiện lá số chính xác). Nay tôi xin chia sẻ cho các bạn từng phần trong quyển sách để chúng ta cùng tham khảo và hiểu rõ thêm về Trung Châu Tam Hợp Phái của ông Vương Đình Chi.

Trước tiên, để hiểu rõ về môn phái, chúng ta hãy cùng tìm hiểu SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ TỬ VI TRUNG HOA NÓI CHUNG VÀ TRUNG CHÂU PHÁI NÓI RIÊNG cũng là lời giới thiệu của 2 quyển TRUNG CHÂU TỬ VI ĐẨU SỐ TAM HỢP PHÁI.

Các bạn khi copy sang các diễn đàn khác, xin trích dẫn như sau:

Nguồn: TRUNG CHÂU TỬ VI ĐẨU SỐ TAM HỢP PHÁI – NGUYỄN ANH VŨ dịch.

Tương truyền, Tử Vi Đẩu Số có nguồn gốc từ Khâm Thiên Giám của triều đại nhà Đường, ở Lạc Dương, Trung Châu.

Trung Châu là tên một vùng đất cổ, tức “Trung Thổ”, “Trung Nguyên”. Theo nghĩa rộng, “Trung Châu” là chỉ toàn nước Trung Hoa, còn gọi là “Thần Châu”, “Hoa Hạ”. Nghĩa ban đầu của “Trung Châu” là chỉ vùng đất thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay, hay thuộc lưu vực sông Hoàng Hà. Vì vùng đất này ở giữa Cửu Châu thời cổ đại nên có tên gọi này. Phần lớn thời gian trong lịch sử, vùng đất này là trung tâm văn hóa, chính trị, và Kinh Tế của Trung Quốc. Thời cổ, Lạc Dương là vùng đất trọng yếu của Trung Châu tọa lạc ở bờ nam sông Hoàng Hà, miền tây tỉnh Hà Nam, phía Bắc dựa núi Mang Sơn, phía nam đối diện Long Môn, phía tây liền với Tần Lĩnh, phía đông là vách núi Tung sơn, ở giữa là một vùng bình nguyên. Nơi này địa hình hiểm yếu, đất đai phì nhiêu, nguồn nước dồi dào; trong lịch sử, đây là vùng đất mà các binh gia phải chiếm lấy, còn là nơi lý tưởng để lập quốc đô. Bắt đầu từ năm 770 TCN, trước sau đã có chín vương triều là Đông Chu, Đông Hán, Tào Ngụy, Tây Tấn, Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Hậu Lương, và Hậu Đường, chọn nơi này làm kinh đô, vì vậy Lạc Dương được gọi là “Cửu Triều Cố Đô”.

Vào thời Đường, thiên văn học và chiêm tinh học từ phía Tây Vực du nhập vào Trung Quốc đã thúc đẩy Tinh Mệnh Học của Trung Quốc phát triển một bước lớn, từ đó lịch pháp và bát tự sinh thần trở thành nhân tố trọng yếu trong Tinh Mệnh Học. Những hoạt động sôi nổi này chủ yếu tập trung ở Lạc Dương, Trung Châu.

Trong số các Đạo kinh truyền lại từ đời Đường có Bắc Đẩu Kinh, Nam Đẩu Kinh, Phật thuyết bắc đẩu thất tinh Diên Mệnh kinh, trong đó đã có những ghi chép tường tận về phương pháp bài bố sao mệnh chủ và sao thân chủ như trong Tử Vi Đẩu Số. Theo quan niệm của đương thời, sao mệnh chủ và sao thân chủ luôn là mấu chốt quan trọng của kiếp số nhân sinh, vì vậy Đạo Giáo có “Kì an lễ đẩu”, “Kì nhương khoa nghi” (một loại nghi lễ cúng sao trong đạo giáo). Trong bắc đẩu kinh còn đề cập 12 cung, “Giáp cát trợ tinh”, cho đến các cách cục hung dẫn đến các loại mệnh vận tai kiếp như trong Tử Vi Đẩu Số. Điều này cho thấy 3 cuốn kinh kể trên có liên quan mật thiết đến Tử Vi Đẩu Số sau này. Nếu các bản chú giải kinh văn thời ấy còn lưu truyền cho đến ngày nay, có lẽ chúng ta sẽ biết yếu quyết của Tử Vi Đẩu Số vào thời ấy tường tận hơn. Hiện tượng chọn Tử Vi làm sao tôn quý nhất trong 14 chủ tinh có nguồn gốc từ Bắc Đẩu Kinh, Nam Đẩu Kinh, trong đó ẩn chứa khái niệm “số” trong Huyền Học, hậu thế gọi là “Tử Vi Đẩu Số” thực sự có hàm ý uyên nguyên của nó.

Sau thời Bắc Tống, các hệ thống tinh mệnh học dần dần hoàn thiệt, Ngũ Tinh Thuật (Thất Chính Tứ Dư) và Tử Bình thuật đã phát triển thành 2 lưu phái Tinh Mệnh học lớn ở Trung Quốc. Trong đó, Ngũ Tinh thuật phái Cẩm Đường là chi phái Thất Chính Tứ Dư nổi tiếng nhất thời ấy, nguồn gốc xuất phát từ Mật Tông, tổ sư là Nhất Hạnh(CN. năm 683 – 727), người đời Đường, tên tục là Trung Trục, có sách truyền lại là Hư Thục Ngũ Tinh nguyên lưu; truyền đến tăng Xuân ở núi Thanh Thành, Xuân truyền cho tăng Phổ Trừng ở Giang Tây, Trừng truyền cho Tứ Minh tăng Huệ Minh ở Chiết Giang, Minh truyền lại cho quốc sư nước Liêu là Gia Luật Sở Tài. Gia Luật là một dòng họ quý tộc nổi tiếng đời Liêu, có rất nhiều người làm quan lớn và văn nhân học sĩ. Ba quyển Tinh Mệnh Tổng Quát là do Hàn Lâm học sĩ Gia Luật Thuẩn biên soạn. Sách sử không ghi tên ông, cho nên trong Tứ Khố đề yếu nghi là sách thác danh, nhưng trong quyển đầu ghi: “Nguyên Tự” thiên Gia Luật Thuần viết vào niên hiệu Thống Hòa thứ 2 (CN, ngày 10, tháng 9 năm 984); Văn Hồ các thư mục ghi là một bộ, không phân chia số sách; Lục Trúc Đường thư mục chia làm 5 sách, nhưng không ghi số quyển; bộ sách này thấy chép trong Vĩnh Lạc đại điển và Tứ Khố toàn thư, ngoài nhân gian không có truyền bản nào khác. Ngoài ra, bộ Hư Thục Ngũ Tinh nguyên lưu còn được chùa Thiên Giới cất giữ một bản; vào niên hiệu Hồng Vũ thứ 6, truyền lại cho Thương Quý Đổng. Truyền bản ngày nay phần nhiều là Cẩm Đường Ngũ Tinh, Chỉ Kim Hư Thục Ngũ Tinh Thiên Cơ thất ngũ phú. Do đó có thể thấy phái Cầm Đường là một phân chi Tinh Tông quan trọng. Còn có thể khảo chứng thư tịch Tinh tông trong bộ sách Trương Quả tinh tông chép trong Tứ Khố toàn thư, và Tinh Mệnh tố nguyên do Trương Quả trước tác, thân thế Trương Quả có ghi chép trong Tân Đường truyện – Phương Kĩ truyện. So sánh đối chiếu với phương pháp đoán mệnh của Thất Chính Tứ Dư, người ta thấy có nhiều dấu vết diễn biến thành Tử Vi Đẩu Số ngày nay.

Trong suốt khoảng thời gian từ đời Tống đến đầu đời Nguyên, Tử Vi Đẩu Số hầu như im hơi lặng tiếng, người ta không tìm thấy một văn bản nào khác liên quan đến Tử Vi Đẩu Số. Hiện chỉ lưu giữ được 1 bản chép tay sách các cổ quyết của Tử Vi Đẩu Số đời Nguyên.

Đến đời Minh, giai đoạn cuối thời kì chấp chính của Chu Nguyên Chương, vị vua khai quốc triều Minh này đã hạ lệnh cấm dân gian không được học thiên văn, cho nên Tinh tông mệnh lí học dần dần bị chìm trong bóng tối, mãi đến niên hiệu Gia Tĩnh thứ 26 (CN năm 1547) mới giải trừ luật cấm học thiên văn.

Tinh tông mệnh lí học thoát khỏi lệnh cấm này, dần dần từng bước hoàn thiện hệ thống. Tên gọi “Tử Vi Đẩu Số” sớm nhất được thất trong Tục Đạo Tạng, do Trương Quốc Tường, Chính Nhất thiền sư đời thứ 50 của đạo giáo, tập thành vào thời Minh Thần Tông niên hiệu Vạn Lịch thứ 35 (1607), trong đó có 3 quyển Tử Vi Đẩu Số, không rõ tác giả, căn cứ nội dung của 3 quyển Tử Vi Đẩu Số này thì đúng là thuật “Thập Bát Phi Tinh”. Đầu đời Thanh, trong Tử bộ thuật số của Tứ Khố toàn thư, tổng cộng ghi nhận được 50 loại thuật số, bao gồm cả “Thập Bát Phi Tinh” và “Tử Vi Đẩu Số”. Cũng chính vì vậy mà một số học giả cho rằng Tử Vi Đẩu Số là hình thức cải cách của “Thập Bát Phi Tinh” được thu thập trong Tục Đạo Tạng.

Tuy triều Minh cấm dân gian học thiên văn, nhưng cơ cấu triều đình vẫn có một cơ quan chuyên trách về khí tượng và thiên văn, gọi là “Khâm Thiên Giám”, cho nên môn học thuật này vẫn phát triển trong cung đình hoàng gia. Vì nhân tố hoàn cảnh thời đại, Đẩu Số bị khoác lên một bức màn che, làm tăng vẻ thần bí của nó. Tử vi Đẩu Số bắt nguồn từ ngũ tinh thuật, do xuất phát từ Khâm Thiên Giám đời Đường ở Lạc Dương, Trung Châu, nên còn gọi là “Khâm Thiên Giám Bí Cấp”.

Sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư và Tử Vi Đẩu Số toàn tập đều đề do Trần Đoàn cuối đời Ngũ Đại sáng tác, trong dân gian thì lưu truyền thuyết Lữ Đồng Tân truyền Tử Vi Đẩu Số cho Trần Hi Di. Trần Hi Di lại mang Tử Vi Đẩu Số truyền cho các đồ đệ của mình, trong suốt mấy trăm năm, Tử Vi Đẩu Số mang hình thức bí truyền từ đời này sang đời sau, đây là một trong những nguyên nhân khiến sách Tử Vi Đẩu Số xuất hiện rất hiếm hoi.

Khoảng niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh, La Hồng Tiên, một nhà kham dư gia ở Cát Thủy, Giang Tây, khắc in và lưu truyền sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư. Về sau Phan Hi Doãn, hiệu là Phụ Tử Tử ở Giang Tây, biên tập sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Tập, và hậu thích của Phan Hi Doãn là Dương Nhất Vũ ở Quan Tây, Phúc Kiến tăng bổ.Hiện nay hai bản TVĐS này là tư liệu hàng đầu để nghiên cứu TVĐS cổ đại, nhưng đều là bản khắc vào thời kì Đồng Trị đời Thanh. Xét về nội dung thì biết được hai bản này về đại thể thì đại đồng tiểu dị, và không phải do một người biên soạn.

Vào khoảng cuối đời Minh đầu đời Thanh, toán học và Thiên Văn Học phương tây theo các giáo sữ Mục Ni Các, Thang Nhược Vọng, Nam Hoài Nhân, v.v… truyền vào Trung Quốc. Theo đó, Tinh Tông mệnh lí học và Trạch Cát thuật lại hưng khởi, càng làm cho khoa Tử Bình hưng thịnh hơn. Khoa Tử Bình đồng thời cũng hấp thu tinh hoa của Tinh Tông mệnh lí học. Việc ứng dụng các thần sát cũng xuất hiện nhiều trong khoa Tử Bình, còn khoa Tử Vi Đẩu Số thì ít người biết đến, nên càng mang sắc thần bí.

Trước năm 1950, phương thức đoán mệnh ở Đài Loang phần lớn chỉ dùng khoa Tử Bình. Sau đó trên thị trường lưu truyền cuốn Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, do Trúc Lâm thư cục xuất bản vào năm 1958, sách đề do Hi Di Trần đoàn trước tác, ban đầu chi làm 2 tập, về sau in gộp thành một tập.

Trong khoảng thời gian từ 1947 – 1955, toàn Đài Loan không có thêm bộ TVĐS nào khác. Mãi đến giữa tháng 2, năm 1966, Phúc Châu Xuất Bản Xã mới xuất bản Thập Bát Phi Tinh Sách Thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập, đề tác giả là Đại Tống Hoa Sơn Hi Di Trần Đồ Nam, người tăng bổ là Bạch Ngọc Thiềm. Chủ của bộ sách cổ này là Thiết Bản Đạo Nhân Trần Nhạc Kì.

Điều đáng chú ý là, sách này ở phần phàm lệ của tác giả đề rằng:” Tử Vi Đẩu Số truyền thế, chia ra hai phái Nam Bắc, sách này thuộc Bắc Phái, là chính thống chân truyền, ứng nghiệm vô song, còn Nam Phái là bản lưu truyền trong dân gian, do hậu nhân ngụy thác tên của Hi Di, không ứng nghiệm, là ngụy thư gạt người …”

Bản sách này tự xưng thuộc Bắc phái, thực ra so với bản Thập Bát Phi Tinh Sách Thiên Tử Vi Đẩu số Toàn Tập do Tập Văn thư cục xuất bản năm 1971, nội dung hoàn toàn tương đồng, chỉ khác là không có câu kể trên.

Giữa TVĐS toàn thư và TVĐS Toàn tập có nhiều chỗ khác biệt, như sau:

(1) Mệnh Chủ:

Trong TVĐS Toàn Thư lấy địa chi cung mệnh làm chủ. Còn trong TVĐS toàn tập thì lấy địa chi năm sinh làm chủ.

(2) Tứ Hóa:
Năm CAnh và năm Nhâm phương pháp an khác nhau. Trong quyển 2 TVĐS toàn thư, phương pháp an của năm Canh là “Nhật Vũ Đồng Âm”; nhưng trong quyển 4 thì lại có mục cổ lệ, phương pháp an là “Nhật Vũ Đồng Tướng”; phương pháp an của năm Nhâm là “Lương Vi Phủ Vũ”. Trong TVĐS toàn tập, phương pháp an của năm Canh là “Nhật Vũ Âm Đồng”; phương pháp an của năm nhâm là “Lương Vi Phụ Vũ”.

(3) Hỏa Tinh, Linh Tinh:

Trong quyển 2 của TVĐS toàn thư, chỉ lấy địa chi của năm sinh làm chủ, không thấy nói phải phối hợp với giờ sinh hay không; nhưng theo cổ lệ ghi trong quyển 4 thì lại thấy rất rõ ràng là không phối hợp với giờ sinh (ngoài ra, bản đầu tiên còn ghi người sinh năm Tỵ Dậu Sửu thì Hỏa Tinh ở cung Mão, Linh Tinh ở cung Tuất); phương pháp an trong TVĐS toàn tập là lấy địa chi năm sinh phối hợp với giờ sinh.

(4) Độ sáng của sao:

Trong quyển 2 và quyển 3 của Tử Vi Đẩu Số toàn thư có liệt kê thành 1 bảng các sao ở 12 cung có 7 cấp độ sáng: miếu, vượng, đắc địa, lợi ích, bình hòa, không đắc địa, hãm. Trong TVĐS toàn tập không có bảng liệt kê này, nhưng có “Vượng cung hãm địa cát hung chi đồ” và “Thập nhị cung Lộc Quyền Khoa Kị miếu vượng luận”

(5) Đại Hạn:

Trong TVĐS toàn thư, khởi đại hạn là dương nam âm nữ lấy ttru7o7co1 cung mệnh 1 cung (tức là cung phụ mẫu), đi thuận; âm nam dương nữ thì từ sau cung mệnh một cung (tức cung huynh đệ), đi nghịch. Còn trong TVĐS toàn tập, khởi đại hạn từ cung mệnh rồi mới đi thuận hay đi nghịch.

(6) Lưu niên Thái Tuế Thần Sát:

Trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, lưu niên thái tuế thần sát chỉ có “Tứ Phi tinh quyết Tang Hổ Khách Phù”, tức là chi an năm thần sát của “lưu niên Thái Tuế thập nhị chi Thần Sát”. Trong Tử Vi Đẩu Số toàn tập, lưu niên Thái Tuế thần sát thì an 11 cát thần, 47 hung sát, tổng cộng 58 thần sát.

TVĐS toàn thư và TVĐS toàn tập đều có ghi phương pháp an lưu niên tam cát thần “Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần”, phà phi thiên tam sát “Tấu Thư, Tướng Quân, Trực Phù”.

(7) Thiên Không và Địa Không:

Trong TVĐS toàn thư lấy địa chi giờ sinh đi nghịch và đi thuận để an Thiên Không, Địa Kiếp. Còn TVĐS toàn tập thì lấy Thiên Không của TVĐS toàn thư gọi thành Địa Không; còn lấy địa chi của năm sinh an một sao khác trước Thiên Không một cung. Do đó có thể biết, Thiên Không và Địa Kiếp của TVĐS toàn thư chính là Địa Không Địa Kiếp của TVĐS toàn tập; còn Thiên Không của TVĐS toàn tập khác với Thiên Không của TVĐS Toàn Thư.

Có một số sao thần sát trong hai cuốn đều có cách an và có giải thích (như Thiên Mã, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hồng Loan, Thiên Không, Địa Kiếp, Hóa Kị, Thiên Thương, Thiên Sứ, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Khốc, Thiên Hư); có một số sao thần sát trong 2 cuốn đều có phương pháp an nhưng không có giải thích (như Thiên Hỉ, Tam Thai, Bát Tọa, Đài Phụ, Phong Cáo, Long Trì, Phượng Các, Tiệt Không, Tuần Không); có một số sao trong TVĐS toàn thư không có, nhưng trong TVĐS toàn tập có phương pháp an (như Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, Cô Thần, Quả Tú, Kiếp Sát, Hoa Cái, Đào Hoa Sát, Đại Hao, Phá Toái, Địa Không).

Điều đáng ngạc nhiên là, có một số sao như Giải Thần, Thiên Vu, Phỉ Liêm, Thiên Nguyệt, Âm Sát, trong TVĐS toàn thư lẫn TVĐS toàn tập đều không có, nhưng hiện nay sách TVĐS nào cũng thấy.

Hai Bộ Sách TVĐS toàn thư và TVĐS toàn tập có một điểm chung, đó là đều đề cập đến La Hồng Tiên. Theo truyền thuyết, vào đời Minh, La Hồng Tiên từng chỉnh lí Đẩu Số, nhưng về sau sự phát triển cũng không có chứng cứ rõ ràng. Hai bản TVĐS toàn thư và toàn tập lưu truyền trong dân gian vào khoảng cuối triều Minh đầu triều Thanh, nhưng thời bấy giờ dường như ít người xem trọng TVĐS, cho nên phát triển khá chậm, trong khi đó khoa Tử Bình lại rất thịnh hành. Lúc sách TVĐS được đưa vào Đạo Tạng, Đẩu Số vẫn im hơi lặng tiếng (xét về mặt văn bản). Mãi đến năm 1911, TVĐS tuyên vi của Quan Vân Chủ Nhân (thuộc Bắc Phái) mới tái hệ thống, chú giải, bình luận TVĐS một lần nữa.

Năm 1950, xuất hiện hai nhân vật khá quan trọng trong lịch sử phát triển TVĐS, đó là Thiết Bản Đạo Nhân và Hà Mậu Tùng (cao thủ Tam Hợp Phái). Tư tưởng của một phái muốn phát huy ảnh hưởng, thu nhận môn đồ, trước thư lập thuyết là điều bắt buộc, nhưng trong số môn đồ phải có người dương danh thiên hạ mới càng quan trọng, trong 2 người kể trên, Hà Mậu Tùng lão tiên sinh đúng là có đủ 2 điều kiện này. Đại đệ tử của ông là Tử Vân, nhờ trước thư lập thuyết, nói những điều tiền nhân chưa nói, ngày nay đã trở thành nhất đại tông sư trong giới nghiên cứu đẩu số.

Trong khoảng thập nhiên 50 của thế kỷ 20, TVĐS danh gia Lục Bân Triệu (cao thủ Tam Hợp Phái) đến Hương Cảng công khai trương bảng đoán mệnh, độ chính xác khá cao khiến ông nổi tiếng như cồn, ông còn mở lớp dạy, về sau những bài giảng của ông được xuất bản với tên Tử Vi Đẩu Số Giảng Nghĩa. Trong thời kì này còn có một người nổi danh trước Lục Bân Triệu là Trương Khai Quyển, biệt hiệu “Vô Muộn Trai Chủ”, với cuốn Tử vi Đẩu Số mệnh lý nghiên cứu, được Vương Đình Chi xưng tụng là cao thủ Bắc Phái.

Vào thập niên 60 của thế kỷ 20, trong giới nghiên cứu Đẩu Số ở Đài Loan xuất hiện một người tên là Trương Diệu Văn, đại tông sư của “Thái Phái”. Vốn là tiến sĩ kinh tế học, vào khoảng những năm 1966 trở về trước ông ở Nhật Bản dạy học, tự xưng mình là truyền nhân đời thứ 13 của Minh Đăng phái (tức Thấu Phái). Năm 1967 ông trở về Đài Loan, mang TVĐS của Thấu Phái truyền bá tại Đài Loan. Phái Đẩu Số này có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của TVĐS ở Đài Loan giai đoạn này. Các bản dịch Đẩu Số từ tiếng Nhật sang tiếng Hán cũng dần dần xuất hiện, thời kì đầu có A Bộ Thái Sơn, về sau có Bảo Lê Minh, v.v… đều là các tác gia thuộc nhóm nghiên cứu đẩu số Đông Dương.

Đương thời, có rất nhiều bản dịch TVĐS của A Bộ Thái Sơn xuất hiện ở Đài Loan, cho nên ông khá nổi tiếng. Ông là người trong thấu phái, Đẩu Số của ông đương nhiên theo phương pháp “quá tiết khí”.

Tương truyền người sáng lập Thấu Phái là một phụ nữ đời Minh tên Mai Tố Hương.

Thấu phái gọi Đẩu Số là “Tử Vi chiêm tinh thuật”; phái này thần thoại hóa các “tinh diệu”, lấy bối cảnh cuộc chiến tranh giữa nhà Ân và nhà Chu thời viễn cổ, mang các nhân vật trong Phong Thần diễn nghĩa gán vào các tinh diệu. Đặc điểm của Thấu phái là vấn đề “quá tiết khí” khi khởi mệnh bàn. Đến khoảng giữa thập niên 80 của thế kỉ trước, do giới nghiên cứu Đẩu Số ngày càng tăng và càng chuyên sâu hơn, đương thời, quan điểm này của Trương Diệu Văn bị khá nhiều học giả Đẩu Số công kích. Do đó Thấu Phái Đẩu Số lưu truyền đến ngày nay ko còn như trước kia, phần lớn đều bỏ không dùng nguyên tắc “quá tiết khí”.

Khoảng giữa thập niên 70 của thế kỉ trước, TVĐS ở Đài Loan dần dần thịnh hành. Trong số các nhân vật xuất hiện vào thời kì này có một người đáng được đề cập, đó là Lương Tương Nhuận, ông là lão tiền bối trong giới nghiên cứu Tử Bình, các tác phẩm về TVĐS của ông cũng rất có giá trị, phần nhiều viết chung với bà Lương Thiên Lan.

Trước năm 1981, trong giới nghiên cứu Đẩu Số còn có ba người khác nổi tiếng khác là Lục Dị Công, Khổng Nhật Xương, Chung Trực Lâm.

Có thể nói trước thập niên 80 của thế kỉ 20, TVĐS giống như đang ở trong thời kì tiềm phục, cho đến năm 1982, TVĐS tân thuyên của Tuệ Tâm Trai Chủ ra đời, giới nghiên cứu Đẩu Số mới nổi cơn sóng gió mạnh kéo dài hơn 10 năm. Trong quá trình này, nhiều phương diện bí truyền ẩn tàng của TVĐS đã được đưa ra ánh sáng.

Người gây ảnh hưởng sớm nhất ở giai đoạn này có thể nói là Tuệ Tâm Trai Chủ, tên tuổi của bà có ấn tượng rất sâu trong phần lớn độc giả ở Đài Loan và Hương Cảng. Trước năm 1980, người học Đẩu Số phần nhiều tham dự các lớp học nhỏ là chính, nhưng từ lúc Tuệ Tâm Trai Chủ bắt đầu bàn luận Đẩu Số trên báo, giống như đã thổi vào Đẩu Số một luồng sinh khí mới. Tuệ Tâm Trai Chủ đã sử dụng ngôn ngữ thường ngày dễ hiểu để giải thích Đẩu Số, khiến những điều cổ truyền khó hiểu trở thành rất dung dị. Bộ sách TVĐS tân thuyên có thể nói là rất thành công, về sau bà viết thêm nhiều cuốn khác cũng đều thành công. Sự thành công của bộ sách TVĐS tân thuyên không phải là ngẫu nhiên, nó đã làm cho độc giả thời ấy có thể tự lập mệnh bàn và tự mình phân tích từng cung. Nhưng do bà dùng cách giải đoán từng cung cho dễ hiểu, nên cũng khiến người đọc dễ hiểu lầm về kĩ thuật và quy tắc luận đoán Đẩu Số. Tóm lại, đối tượng của bà là đại chúng phổ thông, vì vậy có mặt hạn chế, không đi sâu vào sự tinh tế của Đẩu Số, nhưng cũng không phải là không có tuyệt kĩ.

Từ lúc Đẩu Số bắt đầu được xem trọng, nhiều tác phẩm Đẩu Số ra đời, thuyết của các nhà trăm hoa đua nở. Một số thì giảng giải tâm pháp cổ truyền, một số thì chủ trương Đẩu Số và Tử Bình phối hợp tham chiếu, một số thì thần bí hóa, mang Đẩu số gộp chung với tôn giáo, một số khác thì tuyên bố mình được truyền bí pháp chép tay của tiên sư, v.v… Trung số này đáng chú ý có những người sau đây:

– Ngô Tình, đáng tiếc sách của ông này hầu như đã tuyệt bản, rất khó mua trên thị trường. Ông phê bình Đẩu Số cổ truyền rất nghiêm túc. Một số đặc điểm trong sách của ông như: Phần lớn các sao nhỏ trong Đẩu Số ông đều không dùng tới, Thiên Thương và Thiên Sứ theo thuyết cổ truyền có thể đoán sinh tử, ông cho rằng chỉ hù dọa người ta; thuyết “miếu, vượng, lợi, hãm” cũng không dùng, v.v… Thuyết của ông toàn bộ trọng điểm nằm ở sự biến hóa của tứ hóa, cho rằng Hóa Lộc và Hóa Kị mới là nhân tốt quyết định. Đồng thời ông còn nhấn mạnh mình có “bí kíp ngàn năm bất truyền”. Thuyết của ông ngày nay ảnh hưởng mạnh trong lưu phái Phi Tinh trong Bắc Phái TVĐS.

– Sở Hoàng, phải kể là người đầu tiên công khai phương pháp bày bố tinh bàn trên bàn tay, trước ông, các sách Đẩu Số phần lớn đều chỉ căn cứ vào “cổ quyết”. Ông trước thư lập thuyết, chủ trương Đẩu Số và Tử Bình phối hợp tham chiếu, trong Đẩu Số còn ứng dụng một số nguyên lí đoán mệnh của Tử Bình. Trong thuyết tương sinh tương khắc, tác giả còn sáng tạo ra lí luận “Lạp Hoàn”, dùng để giải thích vận tác giữa các tinh diệu với phép tắc bát tự, cũng được cho là thành một pháo.

– Chính Huyền Sơn Nhân, là người sáng lập ra thuyết “thiên địa nhân TVĐS”, nói Đẩu Số là do “thần tiên” dạy cho ông. Chính Huyền Sơn Nhân viết rất nhiều sách Đẩu Số, trong đó nói nhiều về quá trình và tinh thần cầu đạo của ông. Chính Huyền Sơn Nhân mang các sao trong TVĐS liên hệ với chư vị tiên nhân ở trên trời, thần bí hóa TVĐS đến cực độ. Đồng thời, chủ trương “Cung can phi xuất tiên thiên tứ hóa tinh”.

– Phan Tử Ngư trương bản đoán mệnh khá sớm, học trò rất đông, trước tác cũng không ít, phải kể là rất thịnh hành một thời. Đặc sắc trong các trước tác Đẩu Số của ông là lời đoán mệnh phán như đinh đóng cột.

– Tử Vân là học trò của Hà Mậu Tùng, một cao thủ Tử Vi Đẩu Số thời kì đầu. Năm 1987, ông xuất bản cuốn Đẩu Số dữ nhân sinh, làm chấn động giới nghiên cứu Đẩu Số ở Đài Loan và Hương Cảng. Trong cuốn Đẩu Số dữ nhân sinh, Tử Vân tự thuật quá trình nghiên cứu Đẩu Số của mình, và thuyết minh quan điểm của ông về tính chất và ứng dụng của 12 cung. Trong thời gian này, sách Đẩu số liên tục được xuất bản với số lượng lớn, nhưng phần nhiều chẳng có cống hiến gì. Riêng sách của Tử Vân tiên sinh được cho là đã bổ sung những chỗ trống trong Đẩu số cổ truyền. Ngày nay trong giới nghiên cứu Đẩu Số, người được tôn là bá chủ về phương diện kĩ thuật luận đoán chính là Tử Vân tiên sinh. Nhất là vào năm 1990, trong Đẩu số luận hôn nhân, Tử Vân tiên sinh đã đưa ra thuyết “Thái Tuế nhập quái pháp” và nguyên tắc “Tương khê”, đã giải quyết vấn đề kĩ thuật mà cả trăm năm nay không cách nào giải thích, nhờ vậy cũng đã giải quyết chỗ khiếm khuyết trong bộ Hiện đại Tử Vi của nhóm Liễu Vô Cư Sĩ. Thuyết này đã biết Đẩu Số thành một phương pháp chỉ ra xu thế và phương hướng của mệnh vận; từ đó Đẩu Số có cách để phân biệt những người sinh ra cùng một giờ có mệnh vận khác nhau. Đây đúng là một bước đột phá trong lịch sử phát triển TVĐS.

Vai trò của Tử Vân tiên sinh rất quan trọng trong hệ phái Tam Hợp. Về cơ bản, phương pháp luận Đẩu Số của ông cũng tương tự như Vương Đình Chi, lấy truyền thống làm chính tông, làm khung giá cho phép luận đoán, lấy bối cảnh thực tế để diễn giải, tổng hợp cổ kim, và rất chú trọng phương diện tâm lí, sinh lí, nhân tính để ứng dụng trong luận đoán.

Trước năm 1989, Tử Vân đã cho ra đời bộ Đẩu Số luận danh nhân, các sách này đã gây sự chú ý trong giới nghiên cứu Đẩu Số, va đã có uy danh. Năm 1990, trong lúc thị trường chứng khoán của Đài Loan đang từ thịnh chuyển thành suy, phong trào đầu tư vào cổ phiếu bị giảm mạnh, Tử Vân lại hoàn thành cuốn Đẩu Số luận cầu tài, sách này đưa ra phương pháp luận đoán mới, bổ sung phép đoán của tiền nhân, cho rằng, hễ tiền có được nhờ đầu cơ hay đầu tư, cần phải xem cung phúc đức. Tức là, tiền kiếm được không do sức lực hay trí lực của bản thân thì không xem ở cung tài bạch. Trong cuốn đẩu số luận hôn nhân, về phương diện lí luận và thực tế luận đoán của Đẩu Số, đều có sự phát triển mang tính đột phá.

Ngày nay, địa vị của Tử Vân trong giới nghiên cứu Đẩu Số ở Đài Loan được xếp ngang hàng với Vương Đình Chi của Trung Châu Phái ở Hương Cảng. Học trò của ông cũng rất đông, trong số đó nổi tiếng nhất là Liễu Vô Cư Sĩ và Tuệ Canh. Ngày nay ở Đài Loan tên tuổi Liễu Vô Cư Sĩ cũng khá lớn.

Trong số những người còn lại phải kể đến Khôn Nguyên và Vu Ngoan Dã Nông, thực ra đây chỉ là một người, “Vu Ngoan Dã Nông” là biệt danh mà sau này ông ít dùng đến. Khôn Nguyên có nhiều bút danh như Hoàn Hữu Thủy Ngân, Lam Thần, Trịnh Giả Học. Trước tác Tử Vi Đẩu Số của ông có bộ Tử Vi Đường Áo khá nổi tiếng.

Kế đến là Phál Quảng Cư Sĩ và Nam Bắc Sơn Nhân, trong hai người thì Pháp Quảng Cư Sĩ trước tác nhiều hơn, ông có một bộ tùng thuy Truy Tung Chính Thống Đẩu Số, khá thịnh hành vào thời điểm đó, hơn nữa còn có tính liên tục khá mạnh, kéo dài cho đến ngày nay. Còn Nam Bắc Sơn Nhân, tên thật là Đồng Bành Niên, đương thời lấy danh nghĩa “Chính Tông Bác Phải TVĐS” để đoán mệnh, tác phẩm xuất bản không nhiều, chỉ có một quyển Chính Tông TVĐS toàn thư mà thôi.Bắt đầu từ năm 1984, TVĐS bước vào thời đại mới, có thể quy công cho một nhóm người, trong số đó có 2 nhân vật trung tâm là Hoàng Trung Lâm, và Chu Vi. Nhờ nỗ lực của họ, Đẩu Số hiện đại hóa dần dần rõ nét, lí thuyết mệnh lí mang tính khoa học bắt đầu được xây dựng. Hoàng Trung Lâm có bút danh là Liễu Vô Cư Sĩ, vốn là một kí giả, về sau ông nghiên cứu mệnh lí và bắt đầu viết sách đẩu số vào năm 1981. Năm 1984 ông viết cuốn Tử Vi luận mệnh, làm cho ông có tiếng nói trong giới nghiên cứu đẩu số. Cuốn sách này khá thành công, sau đó trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến 1986 ông đã hoàn thành bộ sách quan trọng 7 quyển là Hiện đại tử vi, đây là bước đầu tiên quan trọng trong công cuộc hiện đại hóa Đẩu Số.

Nội dung cuốn Tử Vi luận mệnh chủ yếu là phê phán các tác phẩm của các đại sư thời đó, và từ những luận chứng của mình, tác giả đã đưa ra quan niệm và kĩ thuật luận mệnh mới. Đương nhiên lúc đó các đại sư cũng phản kích dữ dội. Sau cuốn TV mệnh luận, LVCS trở thành nhân vật ưu tú mới trong giới nghiên cứu Đẩu Số. Nhờ phương pháp luận và mô thức khảo cứu hiện đại, Liễu Vô Cư Sĩ còn được coi là nhân vật trí thức phát biểu về mệnh lý truyền thống.

Bộ hiện đại tử vi ra đời từ năm 1985 đến 1986, tổng cộng gồm 7 tập. Về tác giả, ngoài Liễu Vô Cư Sĩ, còn có giáo sư Hứa Hưng Trí, thuật sĩ Tuệ Canh, Quách tiên sinh, Tượng Sơn Cư Sĩ, Phi Vân Cư Sĩ, …

Trong bộ hiện đại Tử Vi (HĐTV) có một phần gọi là “Tử Vi quảng trường”, tức là phần đăng thư do độc giả gửi đến và giải đáp của các tác giả, đây cũng là một sáng kiến, và cũng là nhân tố khiến bộ sách này có sức ảnh hưởng khá lớn vào lúc đó. Bộ HĐTV mỗi tập đều có đặc sắc, nhất là tập 7, có nhiều quan niệm đáng chú ý. Điều đáng được nhắc đến là nỗ lực hiện đại hóa Đẩu Số của bộ sách này. Trong đó đưa ra quan điểm cần nhấn mạnh tính thời đại trong việc tìm hiểu bản chất của Đẩu Số. Một số vấn đề khác còn đợi sự nỗ lực của hậu học. Phương hướng của phái Hiện Đại là sử dụng logic để khảo nghiệm mệnh lý, từ đó xác nhận khả năng và chỗ hạn chế của đẩu số, đây là bước tiến lớn trong việc hiện đại hóa đẩu số. Vì trước đó, quan niệm của người luận mệnh đẩu số là: bất kể sự tình nào cũng đều có thể dựa vào mệnh bàn mà đoán ra, dù mệnh tạo có quan hệ với người khác hay không. Nhưng trong bộ HĐTV lại phủ định nguyên tắc bành trướng này, chủ trương rằng, đối với những sự vật mà bản thân mình có thể quyết định được, Đẩu Số mới có thể luận đoán, nếu mệnh tạo không có quan hệ gì với người khác thì không cách nào luận đoán, trừ phi ở trong mối quan hệ với họ. Đây là thành tựu lớn của bộ Hiện Đại Tử Vi, tuy chỉ hoàn thành một nửa trước. Về nửa sau liên quan đến “điều kiện ở trong mối quan hệ” thì phải đợi sư phụ của ông là Tử Vân giảng giải.

Vào tháng 3 năm 1985, trong giới nghiên cứu Đẩu Số xảy ra một sự kiện lớn, đó là sự xuất hiện của bộ sách “thiên cổ bí cấp” gọi là Hoa Sơn Khâm Thiên Tứ Hóa Tử Vi Đẩu Số phi tinh bí nghi, là bí truyền của Tố Tâm Lão Nhân truyền lại cho Sái Minh Hoành. Sự xuất hiện của nó tạo thành một trào lưu cực lớn về sau, ban đầu được rao bán trên tạp chí Tinh tướng với giá một vạn năm ngàn nguyên (đơn vị tiền tệ của Đài Loan), sau giá nâng lên tới ba trăm vạn nguyên.

Phi Tinh phái là một chi của Bắc phái TVĐS cũng nổi rộ lên trong thời kì này, hiện đang rất thịnh hành ở Đài Loan và Trung Quốc lục địa. Đại biểu nổi tiếng hiện nay là Lương Nhược Du mà sự phụ của Lương Nhược Du là Chu Thanh Hà, một cao thủ tiền bối của Phi Tinh Phái, nội dung TVĐS của phái này sẽ được trình bày đầy đủ trong Trung Châu Tử Vi Đẩu Số – Tứ Hóa Phái của cùng tác giả Nguyễn Anh Vũ.

Có nhiều người cho rằng TVĐS Phi Tinh phái là do người cận đại phát minh. Sở dĩ có sự hiểu lầm này, là do họ cứ nghĩ rằng TVĐS phi tinh bí nghi của Sái Minh Hoành là căn nguyên Phi Tinh phái. Rất nhiều người cho rằng TVĐS của Phi Tinh phái là do Sái Minh Hoành tự sáng chế ra.

Thực ra, trước khi TVĐS phi tinh bí nghi lưu truyền rộng rãi, lí luận TVĐS của Phi Tinh phái đã xuất hiện từ lâu. Vả lại, Phi Tinh Phái cũng có nhiều phân chi, Sái Minh Hoành cũng là một chi phái trong số đó, nhưng là phái được nhiều người biết đến vào thời kì này.

Ngoại trừ các bậc tiền bối như Ông Phúc Dụ, Phương Ngoại Chân, Từ Tăng Sinh, và Lương Nhược Vọng (học trò Sái Minh Hoành) … còn có một số người ít ai biết đến ở Trung Quốc lục địa, nhưng cũng là cao thủ truyền dạy theo truyền thống Bắc Phái Phi Tinh. Ngay như ở Đài Loan, chỉ nói số đồng môn cùng lứa với Sái Minh Hoành, ít nhất cũng có năm người. Hơn nữa, Sái Minh Hoành trong quyển 1 của Khâm Thiên tứ hóa TVĐS phi tinh bí nghi cũng có nói, “bí nghi” là do ông tập đại thành truyền thống Phi Tinh TVĐS. Cho nên, phải nói “bí nghi” là sở học của ông được truyền thừa mới đúng. Ví dụ như “Phi Tinh chuyển yết quan quyết” trong Khâm Thiên tứ hóa TVĐS phi tinh bí nghi (Phan Tử Ngư gọi là “Phi Yến Quỳnh Lâm”, ông được bí truyền từ TQ lục địa) đã lưu truyền rộng rãi trước khi “bí nghi” xuất hiện, rất nhiều phái xem nó là “bí bảo”.

Tử Vi đẩu số của bắc phái Phi Tinh (hay còn gọi là Tứ Hóa Phái) có nhiều truyền thừa khác nhau, lí luận của các chi hệ đều đại đồng tiểu dị. Đương nhiên, trong đó cũng có xuất hiện tư duy mới. Như “Đồng bộ đoán quyết” của Phương Ngoại Nhân chính là phát hiện độc đáo, nhưng nếu nghiên cứu tỉ mỉ nội chung của nó, chúng ta sẽ phát hiện kết luận của Phương Ngoại Nhân không tách rời lí luận cơ bản của Bắc Phái Phi Tinh, Phương Ngoại Nhân cũng nói thẳng, “Đồng bộ đoán quyết” chỉ là suy luận ra từ nền tảng truyền thống, chứ không phải là phát minh nguyên lý gì.

Tử Vi Đẩu Số đang trong giai đoạn hưng khởi, sự xuất hiện một nguồn tư liệu mới đã gây thêm hứng thú cho giới nghiên cứu Đẩu Số. Truyền thống Bắc Phái Phi Tinh đặc biệt ở chỗ vận dụng tứ hóa khác với truyền thống của Tam Hợp Phái. Phái này cho rằng sau khi lập xong mệnh bàn tiên thiên, trong 12 cung đều có thiên can riêng, thiên can của cung mệnh ngoại trừ dùng để tương phối với địa chi (nạp âm) để tính toàn bày bố 14 chính tinh, nó còn được dùng để bày ra một bộ tứ hóa, như vậy mệnh bàn tiên thiên sẽ thêm một tầng biến hóa, việc luận đoán cũng theo đó mà thâm sâu hơn. Càng tinh vi hơn là, không phải chỉ có cung mệnh phi xuất một bộ tứ hóa, mà 11 cung còn lại cũng vậy.

Trước tác của các cao thủ nổi tiếng trong Bắc Phái Phi Tinh gồm có Sái Minh Hoành, Tử Dương, Từ Tăng Sinh, Phương Ngoại Nhân, Khuyến Học Trai Chủ, Lương Nhược Du,v.v… đều có cống hiến đã kể. Phương pháp luận mệnh của họ khá phức tạp, nếu có điều kiện các bạn nên tìm hiểu trong Trung Châu Tử Vi Đẩu Số – Tứ Hóa Phái của cùng tác giả Nguyễn Anh Vũ.

Cũng trong khoảng thời gian này Vương Đình Chi xuất hiện và tự xưng mình là truyền nhân của phái Trung Châu, công nhận Tử vi Đẩu Số Giảng Nghĩa của Lục Bân Triệu là truyền bản của Khâm Thiên Giám Bí Cấp, và tiết lộ nội dung bí truyền Tử Vi Tinh Quyết của môn phái Trung Châu. Ảnh hưởng của Vương Đình Chi khá lớn ở Hương Cảng, về sau lan rộng qua Đài Loan, Singapore, Bắc Mĩ, v.v… kéo dài cho đến ngày nay. Phương pháp luận mệnh của ông là nội dung chủ yếu của bộ Trung Châu Tử Vi Đẩu Số – Tam Hợp Phái mà chúng tôi biên soạn để giới thiệu đến bạn đọc ở đây.

Nhờ sự thành công của bộ Hiện Đại Tử Vi, một số tác giả cũng bắt đầu viết sách, như Đường Sơn Dật Sĩ, Tuệ Canh, v.v… Trong số đó, các công trình của Tuệ Canh Thuật Sĩ là có ảnh hưởng nhất. Tác phẩm của Tuệ Canh là Tử Vi Đẩu Số khai vận toàn tập, trong đó quan niệm và ứng dụng của 12 cung, cho tới tính chất các tinh diệu đều được ông giảng giải rất tinh tế. Đây là sự kiện xảy ra sau năm 1988.

Cũng trong khoảng thời gian này, có một số học giả mới cũng trước thư lập thuyết, trong đó cũng có vài người đáng chú ý, như Ngô Đông Tiều trong Đẩu số tân quan niệm, Trần Thế Hưnh trong Tử Vi Đẩu Số đạo luận, Phúc Canh trong Đẩu Số tâm lí học, Tượng Sơn Cư Sĩ trong Thiên Tinh Đẩu Số bí cấp và Thiên Tinh Đẩu Số chân cơ điển phạm. Nhưng sách này phần lớn thảo luận về đặc tính cơ bản của tinh diệu và các cách cục, cũng có thành tựu.

Trong thời gian này, Liễu Vô Cư Sĩ mang Tử Vi Đẩu Số tuyên vi và Tử Vi Đẩu Số toàn tập ra chú giải; sau đó ông còn đem hết tâm lực ra để hệ thống hóa phương pháp Đẩu Số của mình, lúc này Liễu Vô Cư Sĩ đã dần dần có những quan điểm khác với sư phụ của mình là Tử Vân. Ông đề xuất một số điều, ví dụ như: Bỏ Lộc Tồn, Thiên Mã và các sao cấp 2; ông còn đề xuất: phế bỏ Hóa Quyền và Hóa Khoa, tứ hóa chỉ còn Hóa Lộc và Hóa Kị; ngoài ra còn có một số nguyên tác “khoa học thích dụng tính”.

Lúc này TVĐS lộ rõ sức quyến rũ của nó. Ngày nay, có thể nói TVĐS chia thành hai dòng chính:

– Một là, chủ yếu lấy tinh diệu để luận đoán, gọi chung là Tam Hợp Phái (hay Nam Phái). Trong số các chi lưu thuộc Tam Hợp Phái, thì phái Trung Châu Vương Đình Chi là có hệ thống hoàn bị nhất.
– Hai là, chủ yếu lấy “tứ hóa” để luận đoán, gọi chung là Tứ Hóa Phái (hay Bắc Phái). Trong số các chi lưu thuộc hệ phái Tứ Hóa, thì Khâm Thiên Môn là có hệ thống nghiêm cẩn nhất.

Riêng tại Trung Hoa lục địa, trào lưu nghiên cứu thuật số nói chung, TVĐS nói riêng, cũng khá rầm rộ. Các lưu phái Tử Vi Đẩu Số ở đây phần lớn đều có khuynh hướng tổn hợp hai dòng chủ lưu kể trên. Đáng kể nhất có:

– Tử Vi phái do Vũ Quảng Thịnh sáng lập, chủi trương dung hợp tinh hoa của các phái hệ, với nguyên tắc “Đơn giản và trực tiếp thâm nhập chủ đề”. Lí luận đẩu số của ông rất có giá trị tham khảo.

– “Kì Môn Phái”, đại biểu hiện nay là Đại Đức Sơn Nhân với bộ Tử Vi Đẩu Số tinh thành, v.v… Ông chủ trương lấy các nguyên tắc của bản môn làm nền tảng, và cũng dung hợp tinh hoa của các phái để luận đoán.

ST

PHÂN LOẠI TINH HỆ THEO NHÓM BỆNH – VƯƠNG ĐÌNH CHI

0

Phân loại tinh hệ theo nhóm bệnh – Vương Đình Chi

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

      Sách liệt kê theo nhóm Bệnh, sau đó kể ra các tinh hệ có thể xảy ra những bệnh tật này. Hễ tinh hệ này ở cung Mệnh, cung Tai Ách (có lúc bệnh thuộc hệ thần kinh và bệnh mãn tính ứng nghiệm ở cung Phúc đức), bất kể ở Lưu niên, ở Đại hạn, hay ở tinh bàn nguyên cục đều có thể ứng nghiệm.

Về nguyên tắc luận đoán, vẫn cần chú ý tính chất của cung Tai Ách. Ví dụ như Tham Lang có kèm sát tinh ở cung Tai Ách, tính chất có thể là bệnh gan, cũng có thể là bệnh thận. Đến Đại hạn, cung hạn Tai Ách gặp Liêm trinh – Thiên tướng, mà Thiên tướng bị cách “Hình Kị giáp Ấn“, đây là điềm tượng chủ về bệnh Thận hoặc bệnh về tính dục. Do Tham Lang ở nguyên cục có tính chất chủ về bệnh thận, nên đến Đại hạn này chủ về ứng nghiệm. Các tinh hệ dưới đây, thông thường đều phải gặp các Sát – Kị – Hình – Hao mới đúng, và xem các sao hội hợp cát hung nhiều ít mà định bệnh tình.

Sau đó tra các Lưu niên trong Đại hạn này, sẽ tìm ra Năm phát bệnh. Nguyên tắc luận đoán này, mới nghe thật đơn giản, nhưng nhiều Danh gia Đẩu số còn không biết. Bạn đọc có thể dựa vào nguyên tắc này để thực tập, kinh nghiệm ngày càng phong phú, ắt sẽ có thành tựu.

      Nhóm 1: Bệnh hệ thần kinh

Các tổ hợp sao chủ yếu là Thiên cơ, Thái âm, Thiên đồng. Cũng có thể nói tổ hợp cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” rất dễ bị bệnh liên quan đến hệ thần kinh, như suy nhược thần kinh, tâm thần, thiểu năng chí tuệ, .v.v…

Nhiều lúc bệnh mang tính suy nhược thần kinh có liên quan đến “Thiên đồng – Cự môn”. Nếu “Tử Vi – Tham lang” thủ cung Tai Ách gặp sao Đao hoa quá nặng, thì lúc đến hạn “Cơ Nguyệt Đồng Lương” thủ cung Tai Ách, thường dễ mắc chứng bệnh này, biểu hiện là dương nuy, di tinh, xuất tinh sớm. Ở đây không cần xem Cự Môn.

Người bị bệnh tâm thần, chủ yếu xem Thiên cơ, đông y gọi là Can phong.

Nếu “Thiên cơ – Thái âm” đồng cung với Hỏa Đà, còn gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, là rối loạn Tâm thần kinh (hysteria), thường có biểu hiện kích động, cử chỉ thất thường. Nhưng cần phải hội Thiên Lương và có Thái Dương không có nhập miếu tương chiếu, mới ứng nghiệm.

Bệnh viêm não Nhật bản-B, cũng có liên quan với tinh hệ “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, năm phát bệnh là cung hạn Tai Ách Thiên Lương lạc hãm, hội chiếu Hỏa tinh, Linh tinh. Phỉ liêm, Âm sát. Nhóm tinh hệ này khác với nhóm tinh hệ chủ về bệnh Hysteria nên cẩn thận phân biệt.

Tinh hệ chủ về viêm màng mão đại khái tương tự với tinh hệ chủ về chủ về viêm mang não Nhật bản – B, chỉ khác nhau một điều, là Thái Dương nhập miếu, nếu Thái dương lạc hãm, phần nhiều là viêm não Nhật Bản-B, thời gian ứng nghiệm thường là lúc hạn Tật Ách là Thất Sát hoặc Phá Quân. Thất sát thường chủ về chứng viêm, Phá quân chủ về chứng viêm cấp tính.

Chứng miệng méo, miệng chảy nước dãi (không phải do trúng phong), thì xem các tinh hệ chủ về bệnh chủ ở tạng Thận. Có lúc cung Tai Ách ở nguyên cục là Tham lang, niên hạn ứng nghiệm là lúc cung hạn Tật Ách “Thiên cơ – Thái Âm”, cũng có lúc ngược lại, nguyên cục là “Thiên cơ Thái âm”, thời kỳ ứng nghiệm là hạn Tham lang. Đây là một ví dụ. Hai chứng này đều gặp nhiều Tạp diệu như Thiên hư, Thiên sứ, Thiên diêu, thì phải lưu ý.

Trong số các bệnh hệ thần kinh, có bệnh “rỗng tủy sống” (syringomyelia), xem hệ “Thiên đồng – Cự môn” và hệ “Thất sát – Phá quân”. Người bệnh thường cảm thấy chân tê, không có cảm giác, nếu nghiêm trọng các ngón tay ngón chân có thể bị co quắp, hoặc tê liệt phần mặt. Cổ nhân cho rằng Thất sát, Phá quân là sao chủ về tổn thương, tàn tật, nguyên nhân có liên quan đến chứng bệnh này.

Ngoài ra còn có bệnh múa tay múa chân (ST. Vitu’s dance), người bệnh không thể kiểm soát hoạt động của chân tay, thường có một số động tác nhanh không tự chủ, có lúc thì mắt máy giật, nhíu may, lè lưỡi, bệnh tình tuy không đau, nhưng rất phiền phức. Tinh hệ chủ về chứng này là Tham lang đồng cung với Địa không, Địa kiếp, lại gặp thêm Kình dương, Thiên sứ, có lúc là Thiên đồng hóa Kị đồng cung với Hỏa linh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, cũng chủ về chứng này, nhưng cung Tai Ách của nguyên cục phải là Kình dương ở cung Ngọ, cũng là một nhân tố quan trọng chủ về chứng này.

Đau dây thần kinh tam thoa, tinh hệ chủ yếu là “Thái Dương – Thiên Lương”, có Hỏa Linh hội chiếu hoặc đồng độ, lại gặp thêm Thiên thương, còn có Thiên tướng bị cách “Hình Kị giáp ấn” hội chiếu cung mệnh, đều chủ về chứng bệnh này.

Tinh hệ chủ về liệt thần kinh mặt, và tinh hệ chủ về đau dây thần kinh tam thoa rất khó phân biệt. Điều cần chú ý là, Kình dương phần nhiều chủ về tê liệt thần kinh mặt, tinh hệ ứng nghiệm phát bệnh phần nhiều là Thiên Cơ, còn đau dây thần kinh tam thoa thì không phải vậy.

Bệnh thiên đầu thống mang tính thần kinh, thì xem tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương”, tạp diệu hội hợp phần nhiều có Thiên nguyệt, Thiên hình. Có lúc là “Thiên cơ – Cự môn” đồng cung với Hỏa tinh cũng chủ về bệnh xuất huyết não, khác với bệnh thần kinh đơn thuần, phân biệt chủ yếu là tinh hệ “Thiên cơ – Cự môn” có biểu hiện choáng ngất.

Nếu tinh hệ “Thiên cơ – Cự môn” mà Thiên cơ hóa Kị, còn gặp thêm Thiên hư, thì càng ứng nghiệm.

Bàn tay chân run mang tính thần kinh, thì xem tinh hệ “Thiên đồng – Cự môn”, cũng có quan hệ với Đà la và Cô thần.

Bệnh tay chân run do trúng độc, thì xem tinh hệ “Thái dương – Thiên lương”, có Thiên nguyệt cùng bay đến tì càng đúng. Do trúng độc cũng có thể gây ra chứng tắc ruột, thời kỳ ứng nghiệm phải xem cung hạn Cự Môn

Viêm da mang tính thần kinh là tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng”, thời kỳ ứng nghiệm ắt cung hạn phải gặp Thiên cơ, Thiên Đồng.

      Nhóm 2: Bệnh hệ tiêu hóa

Cơ quan thuộc hệ tiêu hóa, bao gồm Trường (ruột), Vị (dại dày), Can (gan), Đảm (mật). Theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, có thể phân chia như sau:

Vị hàn, thòng dạ dày (sa bao tử), thì xem Thiên phủ thuộc loại “kho lộ”, “kho rỗng”, hoặc Tử vi là cách “tại dã cô quân”, nhưng không được có Hỏa tinh đồng độ mới đúng, có Hỏa tinh thì nhuyễn hóa thành chứng viêm.

Nếu tinh hệ “Tử vi – Thiên tướng” thủ cung Tai Ách, thì thường là Vị hàn, buồn nôn, hoặc tiêu chảy thuộc chứng Hàn, Thiên phủ đồng cung với Hữu bật, phần nhiều là sa bao tử.

Chứng vị hàn cũng có thể là chứng dạ dày dư acid, các sao ứng nghiệm là Thiên phủ gặp Thiên lương, Phá toái, Âm sát, gặp Liêm trinh hóa Kị thì bệnh rất nghiêm trọng, có thể phát triển thành chứng đay dạ dày, thần kinh dạ dày quá mẫn cảm.

Nếu là viêm dạ dày, thì xem Thiên cơ hoặc Cự môn. Thiên cơ thì chủ về bệnh mãn tính, thường còn chủ về đau Gan. Cự môn đồng cung với Hỏa linh thì chủ về viêm dạ dày cấp tính, hay viêm đại tràng cấp tính. Nếu tinh hệ “Thiên cơ – Cự môn” đồng độ, nguy cơ bị viêm dạ dày hay viêm đại tràng rất lớn. Có sao Lộc thì giảm nhẹ, không có sao Lộc mà còn hóa Kị thì càng nặng thêm. Nhưng nếu có Lộc thì thường chủ về bệnh Trường Vị bất hòa, mức độ nhẹ thì viêm dạ dày cấp tính. Bệnh viêm ruột thừa cấp tính thì xem Thiên lương gặp Kình dương, hay Thất sát gặp Kình dương, hoặc Phá quân gặp Kình dương. Trường hợp Phá quân gặp Kình dương cũng chủ về viêm ruột kết, viêm đại tràng cấp tính

“Thiên đồng – Thiên lương” đồng độ, cũng chủ về bệnh dạ dày, phần nhiều thuộc chứng hàn. Nếu có Thiên mã đồng độ, lại gặp thêm Hỏa tinh, Linh tinh, thì phần nhiều là rối loạn tiêu hóa, hoặc tiến triển thành tiêu chảy.

Tử vi cũng chủ về tiêu chảy, nhưng khác tính chất. Tiêu chảy của Tử vi thông thường là hấp thụ không tốt, còn tiêu chảy của tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương” là không tiêu hóa được.

Xơ gan thì xem Thiên cơ, cũng xem Thất sát ở hai cung Dần và Thân, nhưng trường hợp sau phần nhiều là viêm gan siêu vi.

Hễ Thiên cơ đồng cung với Phỉ Liêm, gặp các sao Sát – Kị, còn lại gặp thêm các sao Hư, Hư hao, Hao, Thiên nguyệt, phần nhiều chủ về gan nhiễm ấu trùng (Clonorchiasis) dẫn đến sơ hóa.

Nếu sơ gan do ống mật tắc nghẽn gây ra, thì xem Thiên tướng, có Đà la đồng độ thì càng đúng.

Ống mật tắc nghẽn thường do sỏi mật gây ra, tinh hệ ứng nghiệm là “Liêm trinh – Thiên tướng” đối nhau với Phá quân có sát tinh đồng độ.

Giun chui ống mật (gây nên sỏi mật), ngoại trừ Thiên tướng, Đà la, còn phải xem Phỉ liêm. Hễ bệnh liên quan đến ấu trùng, giun, đều phải xem Phỉ Liêm và Thiên Nguyệt.

Có lúc Cự môn cũng chủ về bệnh túi mật, thì vẫn lấy cung hạn Thiên tướng làm thời kỳ ứng nghiệm, nhất là tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng” thì càng đúng.

Bệnh ở hậu môn chủ yếu xem Thiên đồng, phối với tạp diệu thì xem Âm sát, Long đức, Phá toái.

Trúng độc đường tiêu hóa khác với trúng độc mang tính thần kinh. Trường hợp sau có thể ví dụ là sử dụng ma túy, trường hợp trước chỉ là ăn uống trúng độc. Cung Tật Ách gặp Thiên tướng bị cách “Hình Kị giáp ấn”, Thiên phủ lại không gặp sao Lộc, hoặc gặp sao Lộc mà đồng thời gặp Kình Đà, thì đều phải chú ý vấn đề ẩm thực. Nếu lại gặp Liêm trinh hóa Kị, thì càng phải đề phòng độc tố thức ăn nhiễm vào máu.

Nhóm 3: Bệnh hệ tuần hoàn

Nhóm bệnh này chủ yếu là bệnh tim mạch, huyết áp, phần nhiều xem Thái dương, kế đến là Thiên tướng.

Nhưng bệnh hệ tuần hoàn có khi do bệnh hệ thần kinh gây ra, Đông y gọi là “Tâm Thận bất giao”, hoặc suy nhược thần kinh, có thể dẫn đến tâm thần phân liệt, nhịp tim rối loạn, các chứng bệnh này lại không liên quan đến Thái dương hoặc Thiên tướng, bạn đọc có thể tham khảo ở mục đã thuật ở trước.

Thái dương ở cung vượng, lại gặp Quyền – Lộc, cũng có thể chủ về huyết áp cao, không nhất định phải gặp sát tinh mới đúng.

Thái dương hóa Kị, hoặc Thái dương có Tứ sát tinh giao hội, cũng là điềm tượng huyết áp cao. Nếu là tổ hợp “Thái dương – Cự môn” thì càng đúng.

Tổ hợp “Thái dương – Thiên lương” cũng chủ về trúng phong, bại liệt, vì Thiên lương có tính chất bệnh kinh niên. Tinh hệ này cũng thường gặp các sao Thiên Nguyệt, Thiên Hình hội hợp.

Thiên tướng chủ về Thận, cho nên lúc Thiên tướng bị cách “Hình Kị giáp ấn“, hoặc có các sao hung sát trùng trùng giao hội, cũng chủ về huyết áp cao, cũng có thể là đau tim. Nếu cung Tật Ách của nguyên cục, có khuynh hướng chủ về bệnh hệ thần kinh, lúc đến niên hạn Thái Dương thủ cung Tai Ách, cũng dễ bị chứng huyết áp cao.

Còn chứng huyết áp thấp có liên quan đến hệ nội tiết, cũng xem tinh hệ “Thái dương – Thiên lương”, nhưng thường có Địa không, Địa kiếp hội hợp. Một tinh hệ quan trọng khác là “Thái dương – Thái âm”, hễ có chứng trạng âm dương bất hòa, thì cũng là rối loạn nội tiết.

Cự môn đồng độ với Đà la, hội Thái dương có sát tinh, có lúc chủ về đau thắt ngực (angina pectoris), xơ vữa động mạch; nhưng cũng có thể là bán thân bất toại, tức trúng phong (tai biến mạch máu não)

Tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương” cũng chủ về đau thắt ngực, nếu hội các sao Hình – Kị, thì chủ về tắc nghẽn cơ tim, tắc nghẽn mạch máu.

Bệnh hệ tuần hoàn cũng bao gồm các chứng thiếu máu, tăng bạch cầu, các chứng này thì xem Liêm Trinh, nếu Liêm trinh hóa Kị, có các sao ác sát tụ hội, thì chứng bệnh càng nghiêm trọng.

Nếu do trúng độc gây ra thiếu máu, thì vẫn xem Thiên Lương, hoặc xem tinh hệ “Thái dương – Thái âm”.

Thiếu tiểu cầu da có thể bị bầm tím, chứng bệnh này lấy Thiên đồng hóa Kị làm điềm tượng. Có lúc Thái dương hóa Kị ở nguyên cục có Âm Sát đồng độ, niên hạn ứng nghiệm là lúc đến cung tật ách Thiên đồng hóa Kị gặp các sao Sát – Hình; hoặc Thiên đồng của nguyên cục hóa Kị, niên hạn ứng nghiệm là lúc đến cung hạn tật ách Liêm Trinh đồng cung với Âm Sát. Nhưng trường hợp sau có sự khác biệt tinh tế, y học gọi là da bị bầm tím có tính mẫn cảm, không có liên quan đến tình trạng thiếu tiểu cầu.

Nhóm 4: Bệnh hệ hô hấp

Nhóm bệnh này chủ yếu xem Vũ Khúc, kế đến là Thiên Đồng. Nếu Thất sát, Phá quân hội hợp với các sao Sát – Kị, nhất là Vũ khúc hóa Kị, thì bệnh tình nghiệm trọng, hoặc bị ác tính.

Nhưng cũng có một số bệnh chứng không có liên quan đến các tinh hệ chủ về bệnh đường hô hấp như đã thuật ở trên; như hen suyễn thường xem Thái âm, Thiên lương, nếu hen suyễn là tính bẩm sinh thì xem tinh hệ “Liêm trinh – Thất sát”. Trường hợp trước là bệnh ở ống phế quản, trường hợp sau là bệnh dị ứng bẩm sinh.

Nếu là bệnh viêm ống phế quản cấp tính, thì lấy tinh hệ Vũ khúc gặp Hỏa tinh, Linh tinh làm ứng nghiệm, có Thiên mã cùng bay đến, thì bệnh tình càng nghiêm trọng. Bệnh viêm ống phế quản mãn tính cũng có thể xem Vũ khúc, nhưng nếu do ngoại vật xâm nhập lâu ngày mà gây ra bệnh, như người hút nghiện thuốc lá, hay công nhân làm việc ở nơi nhiều bụi, thì xem Thiên đồng, Cự môn có các sao Sát – Kị tụ tập, có thể phát triển thành bệnh tràn khí phổi (pulmonary emphysema)

Ho gà thì lấy Thiên Lương làm điềm tượng, nhất là tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương” gặp sát tinh, có Thiên mã, phần nhiều chủ về bệnh ho gà. Khác với tắc nghẽn cơ tim là tinh hệ “Thiên đồng – Thiên lương” gặp sát tinh, mà không có Thiên mã.

Lao phổi (phổi kết hạch) thì xem tinh hệ “Liêm trinh – Thất sát”, hoặc tinh hệ “Vũ khúc – Thất sát”. Nếu nguyên cục gặp tinh hệ này, đến đại hạn hoặc lưu niên, gặp cung hạn tật ách Thái âm hóa Kị hội Hỏa Linh là bệnh tình nghiêm trọng, thường phát triển đến giai đoạn cuối.

Bệnh tràn khí phổi cũng xem Vũ khúc, nếu Vũ khúc hóa Kị, bị Liêm trinh hóa Kị của cung hạn xung hội, lại gặp các sao Thiên hình, Thiên nguyệt, Âm sát thì ứng nghiệm.

Một nhóm sao khác chủ về tràn khí phổi, là Phá quân đồng cung với Văn khúc hóa Kị. Còn Vũ khúc hóa Kị đồng cung với Văn khúc hóa Kị thì chủ về kéo đàm, hen suyễn.

Nếu bệnh ở cổ họng thông thường là viêm amidan, xem Cự môn hóa Kị thì càng đúng. Nếu là bệnh bạch hầu, thì xem tình hình Thái âm và Cự môn xung hội, nếu các sao Sát – Kị trùng trùng thì ứng nghiệm. Nếu là viêm họng thì lấy Địa không, Địa kiếp, Đại hao làm biểu trưng.

      Nhóm 5: Bệnh hệ tiết niệu, cơ quan sinh dục

Nhóm bệnh này, thì xem Thiên đồng, Thiên tướng, Liêm trinh.

Khi bệnh tình phát triển đến giai đoạn cuối, nhất là những bệnh có tính viêm, thì xem Thiên lương, Thất sát, Phá quân.

Hễ viêm thận cấp tính hay mãn tính, phần nhiều đều lấy Liêm Trinh làm ứng nghiệm. Nếu Liêm trinh gặp Tham lang đồng độ, hoặc vây chiếu có sát tinh, hoặc Liêm trinh hóa Kị có sát tinh, đều chủ về viêm thận.

Nhưng nếu viêm thận do hệ sinh dục bị nhiễm trùng gây nên, thì không gặp Tham Lang cũng ứng nghiệm, ví dụ như tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng” bị Kình Đà giáp cung, Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, hay cách “Hình Kị giáp ấn” đều có thể mắc bệnh nhiễm trùng này.

Nếu bệnh viêm thận phát triển đến giai đoạn mặt bị thũng, hoặc thậm chí ngực hay bụng giữ nước, thì lấy niên hạn cung tật ách gặp tinh hệ “Thiên đồng – Thái âm” và các sao sát kị, làm thời kỳ ứng nghiệm.

Bệnh bàng quang làm khó tiểu tiện, thì xem Thiên tướng, trường hợp đồng cung với Đà la là đúng. Nếu là bệnh do tuyến tiền liệt gây ra tiểu tiện khó, thì lấy Tham lang, Liêm trinh làm ứng nghiệm, tinh hệ “Hỏa Tham”, hay “Linh Tham” càng chủ về bệnh này.

Niệu đạo kết sỏi, hay sỏi bàng quang, thì xem tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng”, lấy trường hợp khi bị Kình dương và Đà la giáp cung, hay cách “Hình Kị giáp ấn” là đúng. Có lúc tinh hệ “Thiên đồng – Cự môn” hóa Lộc, bị Hỏa tinh và Linh linh giáp cung, cũng chủ về bệnh này. Tinh hệ “Thiên đồng – Cự môn” chủ về bệnh ở đường ống niệu, niệu đạo kết sỏi cũng có thể gây tiểu tiện khó.

Bệnh tiểu tiện khó trái ngược với bệnh đái tháo nhạt, là tiểu ra quá nhiều nước. Chứng đái tháo nhạt, Đông y cho rằng do thận hư, vì vậy xem Thái âm, Thiên đồng. Nhưng cũng do “thùy thể” sau não phân tiết thất thường mà gây ra, thì chọn xem Thái dương hóa Kị, hội Cự môn gia sát tinh làm ứng nghiệm.

Các bệnh về tính dục liên quan đến hệ tiết niệu, đều xem Tham lang, Liêm trinh, lấy trường hợp gặp các sao Đào Hoa, Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Kị làm ứng nghiệm. Thời kỳ ứng nghiệm, có khi kéo dài đến lúc gặp niên hạn Thiên Đồng thủ cung tật ách mới phát tác. Hoặc ngược lại, cung Tật Ách của nguyên cục gặp Thiên đồng, đến niên hạn “Tham lang – Liêm trinh” thủ cung tật ách mới phát tác. Hai nhóm tinh hệ cũng có sự phân biệt, trường hợp trước là do thể chất dễ nhiễm bệnh tính dục, trường hợp sau là do thể chất dễ nhiễm bệnh hệ tiết niệu.

Cho nên, các bệnh như thoát vị bẹn, sa đì, viêm tinh hoàn, lấy tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng” làm điềm tượng. Nhóm tinh hệ này, dù có gặp sao Lộc, cũng không thể xem là tránh được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nếu nguyên cục là “Liêm trinh – Thiên tướng”, mà Liêm trinh hóa Lộc (có lúc còn hội Lộc tồn), thường ở Đại hạn Liêm trinh lại gặp Lưu lộc thì phát bệnh. Cho nên Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa không đại biểu cho việc tránh mắc bệnh, đây là một ví dụ.

Nhóm 6: Bệnh ở ngũ quan

Bệnh ở ngũ quan rất phức tạp, thông thường là do bệnh ở nội tạng phát bệnh mà dẫn đến. Đẩu Số nghiên cứu về bệnh tật, cổ nhân để lại tư liệu chứng nghiệm không nhiều. Vương Đình Chi tuy có nỗ lực nghiên cứu bổ xung, nhưng do thời gian và kiến thức y học đều có giới hạn, nên tư liệu chứng nghiệm về bệnh tật ở ngũ quan càng không được đầy đủ.

Đông y giải thích bệnh tật ở ngũ quan chỉ căn cứ lý luận âm dương ngũ hành và lý thuyết tạng phủ, thực ra không đủ để từ đó, luận đoán ra nhiều bệnh tật ở ngũ quan. Ví dụ như mắt bị cườm nước (glaucoma) rất khó tìm ra tinh hệ chính xác tuyệt đối. Vương Đình Chi kể, ông từng tình cờ gặp một trường hợp Thái dương lạc hãm hóa Kị mà mắt bị bệnh cườm nước (glaucoma), nhưng trước đó Ông cũng từng gặp một người bị mù mắt vì bệnh cườm nước, mà cung Tai Ách lại là Thiên Lương. Vì vậy, Vương Đình Chi đề nghị xem Thái Dương, Thiên Lương, Cự Môn, là điềm tượng chủ các bệnh về mắt, để bạn đọc tham khảo.

Viêm giác mạc mắt là Thái Dương gặp sát tinh, hoặc Thái Dương đồng cung với Hỏa tinh. Chứng bệnh này lấy trường hợp Thái dương hóa Quyền hay hóa Lộc làm ứng nghiệm. Nếu gặp các sao Kình dương, Thiên hình, Thiên sứ, mà Thái dương hóa làm sao Kị, sẽ chủ về phẫu thuật ở bộ phận mắt, nhẹ thì viêm thần kinh thị giác.

Mắt mù do bệnh tiểu đường gây ra, thì xem tinh hệ “Liêm trinh – Thiên tướng”. Nếu do nguyên nhân khác gây ra, vẫn xem Thái dương, hoặc tinh hệ “Thiên đồng – Thái âm”.

“Thiên đồng – Thái âm” chủ về Thận, gây ra bệnh mắt là do tạng thận gây ra. Vì vậy, thận khí hư, thường sẽ bị chứng ruồi bay trước mắt, cũng lấy nhóm tinh hệ này làm ứng nghiệm

Bệnh tai, các nhà Đẩu Số cổ đại chỉ xem Thất Sát, nếu có Long Trì đồng độ, sẽ chủ về tai điếc.

Nếu do thận hư gây bệnh ở lỗ tai, tai ù, thì có thể dùng tinh hệ chủ về bệnh thận để luận đoán, như tinh hệ Thái Âm.

Nhưng nếu là bệnh viêm tai giữa, theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, thì tinh hệ “Vũ khúc – Thiên tướng” có Hỏa tinh hội hoặc vây chiếu, thường chủ về chứng bệnh này.

Viêm họng, lấy Cự Môn làm ứng nghiệm, và cũng xem Thiên đồng, Thái âm.

Khoang miệng thường bị lở, miệng lưỡi bị rát bỏng, thì lấy Cự môn hóa Kị làm điềm tượng.

Đau răng thì phải xem Phá Quân, Vũ Khúc, sâu răng thì xem Thiên tướng có bị sát tinh giáp cung hoặc hội chiếu hay không.

Chảy máu mũi thì xem Liêm Trinh, không cần hóa Kị, gặp sát tinh và Âm Sát, là chủ về bị chảy máu mũi.

Mũi dị ứng và viêm mũi, thì lấy tinh hệ “Liêm trinh – Thất sát”, và tinh hệ “Liêm trinh – Phá quân” có kèm sát tinh làm điềm tượng.

Nhóm 7: Bệnh phụ khoa

Các sao về bệnh phụ khoa, cổ nhân tương truyền là Liêm Trinh và Tham Lang, các sao khác như Tử vi, tinh hệ “Thái âm – Thiên cơ”, Thiên đồng, Thiên tướng, Phá quân, cũng chủ về đau bụng kinh, huyết trắng, nhưng ý nghĩa trùng lặp, phân biệt giới hạn không rõ, cho nên lúc luận đoán hơi chung chung.

Luận đoán đặc biệt như Thiên Lương đồng cung với Hỏa tinh, Linh tinh, chủ về bệnh ung thư vú, mức độ chính xác rất cao. Theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, nếu Tham Lang hóa Kị xung hội Liêm trinh hóa Kị, hoặc Vũ khúc hóa Kị, đồng thời còn gặp Kình Đà xung chiếu, thì chủ về tử cung hoặc ống dẫn trứng có khối u, độ chính xác cũng cao. Nhưng đáng tiếc, những chứng nghiệm như vậy không nhiều, vẫn còn chờ nghiên cứu thêm. Hiện chỉ thuật một số nguyên tắc rất có giới hạn.

Bệnh phụ khoa thường gặp nhất là đau bụng kinh. Mếu không kèm bị viêm thì có thể là Thiên Tướng, có lúc là tinh hệ “Tử vi – Thiên tướng”. Nếu có kèm bị viêm là Tham Lang. Nếu ở hai cung Tỵ hoặc Ngọ mà gặp sát tinh, thì chủ về lệch tử cung, nội mạc tử cung bị dị dạng bẩm sinh.

Nếu kinh nguyệt không điều hòa và ra nhiều máu, thì xem Thiên Đồng, hoặc tinh hệ “Thiên cơ – Thái âm”. Trường hợp tính chất của Thiên Đồng là ôn hòa, thì không kèm bệnh biến, gọi là “xuất huyết có tính cơ năng”. Nếu tinh hệ “Thiên cơ – Thái âm” có sát tinh, sẽ chủ về bệnh biến, nếu nghiêm trọng có thể là sa tử cung.

Bệnh sa tử cung cũng gặp ở trường hợp Thiên Tướng thủ cung tật ách, gặp các sao Đào Hoa và Thiên Hư, Địa không, Địa kiếp, phần nhiều là do sau khi sinh cơ thể hư nhược gây ra.

Nếu viêm nội mạc tử cung, viêm ống dẫn trứng, thì lấy Tử vi độc tọa ở hai cung Tí và Ngọ làm điềm tượng; nếu có Kình dương đồng độ, lại gặp Hàm Trì, Đại Hao, nhất là gặp Hỏa tinh, Linh tinh, thì càng chính xác.

Hai sao Liêm Trinh, Thiên Cơ chủ về bệnh kín của phụ nữ, phần nhiều là kinh nguyệt kho ít, hoặc huyết trắng (bạch đới), còn kèm bị viêm âm đạo.

Nhưng nếu đã gặp tinh hệ chủ về bị viêm, mà đến niên hạn có sao Thiên Tướng, Đà la, Âm sát, Thiên hình, Thiên nguyệt, Thiên đức thủ cung tật ách, thường thường có thể phát triển thành khối u, hoặc ung thư. Có lúc đến niên hạn Vũ khúc hóa Kị thì cung tật ách cũng chủ về ứng nghiệm.

Phá Quân thủ cung tật ách, thì bệnh tình rất là nghiêm trọng, nhất là hội hợp với Vũ khúc hóa thành sao Kị, lại gặp Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, tạp diệu lại gặp các sao hư, hao, hình, nguyệt, phần nhiều chủ về ung thư cổ tử cung, nhưng hiện tượng bề ngoài chỉ là ra huyết trắng.

Nếu là viêm âm đạo do nhiễm trùng, thì cần chú ý Phỉ Liêm

Viêm tuyến vú thì xem Thiên lương, cần chú ý xem có Hỏa tinh, Linh tinh đồng độ hay không, có thì bệnh tình có thể phát triển thành ác tính.

Phụ nữ mang thai thì lấy trường hợp cung Mệnh, cung Phúc đức, hoặc cung Phu thê, gặp Hồng loan, Thiên hỷ làm nguyên tắc luận đoán. Nếu lưu niên gặp Lưu Xương, Lưu Khúc hội chiếu, cung Tử Tức của Lưu niên cát lợi, thì có thể mẹ tròn con vuông. Nhưng nếu cung Tử Nữ của nguyên cục gặp Thiên đồng, Thái âm, nhưng một sao hóa làm sao Kị, lại gặp sao Không, và các sao Hoa cái, Âm sát, Thiên sứ, Thiên hư, Đại hao, thì có thể không sinh đẻ. Lúc này cung Tật ách cũng có điềm tượng, có thể hiển thị bệnh biến về tính dục bẩm sinh, hoặc bệnh biến về tính dục hậu thiên. Hai tinh hệ Tham lang và “Thiên cơ – Thái âm” ở hai cung Tỵ hoặc Ngọ là điềm tượng dị dạng bẩm sinh. Có thể bổ cứu là Thiên Tướng, nhưng nếu Thiên tướng là cách “Hình Kị giáp ấn“, gặp Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, hay Kình dương và Đà la giáp cung, thì cũng có thể bị dị dạng bẩm sinh.

Bảy nhóm bệnh chứng thuật ở trên chưa được toàn diện, còn rất nhiều chứng bệnh thiếu chứng nghiệm, Vương Đình Chi kể, ông từng gặp một trường hợp, đoán là bị sa tử cung, không sinh nở được, nhưng rốt cuộc lại là chứng bệnh rất hiếm gặp, gọi là chứng “thạch nữ”, bà ta kết hôn hơn 10 năm mà vẫn không thể gần gũi với chồng. Những căn bệnh hiếm gặp, cổ nhân không để lại nguyên tắc luận đoán, ứng nghiệm như thế nào phải do người đời nay tìm tòi nghiên cứu.

ST

TỬ VI TỌA THỦ CUNG MỆNH – TOÀN THƯ

0

Tử vi tọa thủ cung Mệnh – Toàn thư

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

DUNG MẠO VÀ TÍNH CÁCH
Người có sao Tử vi tọa thủ cung Mệnh thường có sắc mặt mầu vàng tía, người to béo, tướng mạo hiền hậu điềm tĩnh, ánh mắt trong sáng. Mệnh nam thì vai rộng lưng dày, rắn rỏi uy nghiêm; mệnh nữ thì đôn hậu thanh tú, phúng phính đãy đà, khoan thai quý phái.
Tính cách ngay chính ngay thẳng, trung hậu thật thà, bên ngoài cứng rắng bên trong yếu mềm, có lòng tự trọng tự ái, tâm địa lương thiện, có lòng nhân hậu hay nghĩ cho người khác, có khí chất tôn quý, có tính kiêu ngạo, thích phân minh rõ ràng. Có tinh thần trách nhiệm, thích hư vinh, ưa thể diện, tự tin lại hiếu thắng, giỏi biện luận, tâm địa khá hẹp hòi, thích chiếm hữu, đa nghi thiếu chủ kiến, dễ làm việc theo cảm tính tùy theo mong muốn của bản thân, thường cảm thấy tủi thân, dễ tự tìm đến phiền muội. Thông minh học rộng, năng lực quản lý tài chính giỏi, có khả năng lãnh đạo. Làm việc chăm chỉ nhiệt tình, tính cầu toàn, thích những điều mới mẻ.
Nữ có sao Tử vi tọa thủ cung mệnh, ngoài có tiền đồ còn có dung mạo xinh đẹp, da dẻ mịn màng, khí thái đoan trang, được giáo dục tốt, là mẫu phụ nữ vợ đảm mẹ hiền điển hình. Đại đa số đều có được người bạn đời có địa vị cao trong xã hội, hưởng cuộc sống hạnh phúc về cả vật chất lẫn tinh thần. Nếu gặp Cát tinh thì là người vợ giúp chồng, nuôi con giỏi.

SUY ĐOÁN MỆNH LÝ
Sao Tử vi tuy là Đế tọa phú quý, có khí thể độc tôn, quyền uy cao ngất, là chúa tể của các sao nhưng khi tọa thủ tại cung Mệnh, thì không nhất định là thể hiện phú quý vinh hoa, còn phải xem xét cát hung của các sao trong cung và các cung bên cạnh, cung đối diện và cung tam hội với cung này.
Sao Tử vi không thích hợp tọa thủ một mình, tọa thủ một mình cũng giống như vị vua đơn độc không có hiền thần phò tá, lại vì làm việc không có chủ kiến, thường bó buộc trong vỏ bọc tôn quý, dễ bị gian thần tiểu nhân làm hại, dễ độc đoán chuyên quyền, về tinh thần không tránh khỏi cô độc, nếu không biết biến thông thì khó tránh khỏi gặp trở ngại tai ương.
Người có sao Tử vi tọa thủ cung mệnh, thích được người khác tiếp thu ý kiến của bản thân, thích ra lệnh, thường đưa ra kiến nghị cho người khác, nên dễ bị hiềm khích. Do sao Tử vi có khuynh hướng duy trì địa vị tôn quý của mình, hy vọng được người khác tôn trọng và thừa nhận. Vì vậy tính tình thường kiên định, đòi hỏi cái tôi khá cao, làm bất cứ việc gì đều rất nghiêm túc, có khả năng cải tiến đi lên, đồng thời lại mang tính cầu toàn, thích thể hiện mặt tốt đẹp của bản thân ra ngoài; nhiều khả năng do nỗ lực sau này trong công việc thể hiện nổi trội mà trở nên có quyền uy ở một phương diện nào đó. Sau khi thành danh, tất tiếp tục khẳng định cái tôi, nếu chuyên về tri thức hoặc kỹ thuật đặc thù, lấy hiện trạng đột phá, đồng thời biết tiếp thu ý kiến của bạn bè, duy trì bản năng có lòng hiếu kỳ với bất kỳ sự việc nào, tất có vận may được hiển đạt lớn, nếu không sẽ dễ đi theo khuynh hướng hư danh.
Sao Tử vi hợp nhất đồng cung với 6 cát tinh phò tá, cũng hợp cát tinh như Thiên phủ, Thiên tướng, Thái dương, Thái âm, Lộc tồn, Thiên mã, hoặc gặp được hỗ trợ trong cùng một cung, như vậy mới có thể phát huy được uy lực chân chính của đế tinh.
Suy đoán cát hung của sao Tử vi tọa thủ tại cung mệnh cần phải đồng thời xem xét Tam thai, nếu cung vị của sao Tử vi là Trung thai, thì trước nó một cung là Thượng thai, sau nó một cung là Hạ thai. Các sao Tam thai đều là cát tinh của miếu vượng thì mọi việc hanh thông. Nếu các sao của Tam thai đều là hung tinh rơi vào thế hãm thì mọi việc không như ý.

ST

Tử vi Tí Ngọ – cá tính độc lập, xuất sắc hơn người – Toàn thư

0

Tử vi Tí Ngọ – cá tính độc lập, xuất sắc hơn người – Toàn thư

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

    

  Mệnh tọa cung Ngọ, sao Tử vi nhập mệnh nơi miếu địa, nếu không gặp hai sát tinh Kình dương và Đà la hoặc sao Hóa Kị, là mệnh cách cục hướng Ly minh, lại gặp tam hội cùng chiếu Thiên phủ, Vũ khúc, Thiên tướng nên cũng là mệnh cách “Tử Phủ triều hằng”, được xuất sắc hơn người, kiến giải độc đáo, lý tưởng cao siêu, khí độ hơn người, được thanh cao phúc thọ, cuộc sống sung túc phú quý song toàn. Nếu là mệnh nữ thì có thể giúp chồng lợi con, cao quý đoan trang. Nếu không có Tả phụ Hữu bật phò tá, thì khó tránh khỏi tinh thần cảm thấy cô độc mà tính khí khá thô bạo.

Mệnh tọa cung Tí, do sức mạh phò tá của 6 cát tinh có hạn, bản thân lại không có lực, kị nhất xung với 6 sát tinh, dễ trở thành người vì có lý tưởng mà không thể hành động, do đầy bụng oán trách mà trở nên bảo thủ. Mệnh nữ là viên ngọc đẹp không tỳ vết, về sau diện tướng rất ưa nhìn.

BỐ CỤC SAO
Sao Tử vi tại cung Tí Ngọ, đều là độc tọa, tại cung Tí là ở thế bình (chú thích: độ sáng của các sao tại các cung chia thành 7 cấp: miếu, vượng, địa, lợi, bình, không đắc địa, hãm). Lúc này cung đối diện là Thiên di có Tham lang ở thế vượng chiếu vào, cung Tài bạch có 2 sao Thiên tướng nhập miếu Vũ khúc ở thế địa, cung Quan lộc có 2 sao Thiên phủ nhập miếu còn Liêm trinh ở thế lợi, cùng tam hợp hội chiếu.

Tử vi +3

Thất sát 0

Tử vi +4 Tử vi +4

Phá quân +3

Tử vi +3

Thiên phủ +2

Tử vi +2

Thiên tướng +2

Tử vi + 3

Tham lang +1

Tử vi +3

Tham lang +1

Tử vi + 2

Thiên tướng +2

Tử vi +3

Thiên phủ +3

Tử vi +4

Phá quân +3

Tử vi 0 Tử vi +3

Thất sát 0

VẬN MỆNH CƠ BẢN
Khi sao Tử vi tọa thủ mệnh tại hai cung Tí Ngọ, do nhiều nhất chỉ có thể có được một trong hai sao Tả phụ hoặc Hữu bật đồng cung hoặc cùng chiếu, vì vậy lực lượng của phụ tá không đủ, là có cá tính độc lập, tính khí thô bạo, tinh thần dễ cô độc, chí lớn khó kéo dài.

Nếu tọa thủ tại cung Ngọ nhập miếu thì cát lợi hơn nhiều so với tọa thủ tại cung Tí ở thế bình. Do cung đối diện là cung Thiên di có sao Tham lang xung chiếu nên là người thích thể hiện, ưa kích thích, thích cuộc sống ở nơi đô thị, thích đào hoa nên cuộc sống có nhiều thay đổi, cần phải tự mình nên biết kiềm chế sắc dục, dành thời gian hướng tới học hỏi phát triển.

Cung Tài bạch có Thiên tướng ấn tinh và Vũ khúc tài tinh nên tài vận hanh thông, giỏi quản lý tài chính và gây dựng sự nghiệp kinh doanh, đa phần có thể tự tay làm nên sự nghiệp, là người hào phóng trong vấn đề tiền bạc, khi gặp khó khăn thường có quý nhân phù trợ, tiền tài có nhiều nguồn, trong giới tài chính, công thương nghiệp có thể được thành đạt lớn.

Cung Quan lộc có sao Thiên phủ Liêm trinh, là người rất chuyên chú vào sự nghiệp, nhậm chức công việc nhà nước, đa phần có thể thể hiện tài hoa, hồi trẻ thiếu ổn định, đến tuổi trung niên thì được phát triển, có thể thu được thành công ngoài ý muốn.

VẬN MỆNH CỦA CÁC NĂM SINH KHÁC NHAU
Người sinh năm Giáp: Sao Liêm trinh tại cung Quan lộc hóa Lộc, sao Vũ khúc tại cung Tài bạch hóa Khoa. Cung vận rất tốt, công việc thuận lợi, thời trẻ khó phát huy tài năng, đến tuổi trung niên dần dần bộc lộ, về già được yên ổn, cẩn thận đề phòng nữ sắc; có danh vọng tiền tài ổn định, mọi việc đều theo ý mình, thường phát triển sau tuổi tráng niên thì tài danh có thể giữ vững.

Mệnh tọa thủ tại cung Ngọ, với những người sinh năm Giáp Thân, Giáp Tí, Giáp Thìn; hoặc mệnh tọa thủ tại cung Tí với những người sinh năm Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất, các sao Lộc Tồn Thiên mã (mệnh mã), Thiên tướng  tại cung Tài bạch tam hợp cùng chiếu cung mệnh, nếu không có Hỏa tinh và Linh tinh xung chiếu, thì là mệnh cách “Lộc Mã phối ấn” quyền lớn tiền nhiều, càng bôn ba càng có nhiều tiền của, thường có cơ hội phát tài, chuyển chức, chuyển nghiệp khi thay đổi môi trường, trong đời có nhiều cơ hội đi du lịch.

Người sinh năm Ất: Sao Tử vi của cung mệnh hóa Khoa, trong cuộc sống tất có quý nhân tương trợ, trong nghiên cứu học thuật tất có biểu hiện xuất sắc, mệnh tọa thủ tại cung Ngọ thì càng được cát lợi. Mệnh tọa thủ tại cung Tí với người sinh năm Ất Kỷ, hoặc mệnh tọa thủ tại cung Ngọ với người sinh năm Tân, hai quý nhân Thiên khôi Thiên việt tại cung mệnh, cung Tài bạch tam hợp cùng chiếu là mệnh cách “Thiên ất củng mệnh”, là người giỏi văn chương, được quý nhân tương trợ.

Người sinh năm Bính: sao Liêm trinh tại cung Quan lộc hóa Kị nên trong công việc thường hay tiếc nuối, đa phần thích đầu cơ nhưng không được thuận lợi mà bị rơi vào nghịch cảnh; nên đề phòng việc hành chính Quan phủ, nam mệnh thường hay sống dựa dẫm vào phụ nữ.

Mệnh tọa thủ tại cung Ngọ với người sinh năm Bính Mậu có Kình dương nhập cung Mệnh, là Mệnh cách “Mã đầu đới tiễn” không chết yểu cũng chủ về hình thương, nơi mình thích lại không thể an cư mà phải sống tha hương phiêu bạt vô định. Đến đại vận và tiểu hạn hoặc lưu niên thì dễ sinh chuyện thị phi bất lợi cho vợ con. Nếu bị bệnh, tàn tật ở tuổi trung niên thì phải đặc biệt lưu ý đến sức khỏe.

Người sinh năm Mậu: sao Vũ khúc của cung Tài bạch hóa Lộc, sao Tham lang ở cung Thiên di hóa Quyền, thì có đường phát tài, tài lộc phong hậu mà có sức mạnh, thích nắm quyền

ST

TỬ VI Ở CUNG MỆNH – LỤC BÂN TRIỆU

0

Tử vi ở cung Mệnh – Lục Bân Triệu

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

      Sao Tử vi ở cung Mệnh thì chủ về người có sắc mặt đỏ tía, hoặc vàng trắng, lúc tuổi già sắc thái đỏ vàng hoặc tía; eo lưng mập dày, thân thể cao trung bình; mặt dài gầy mà có kèm tròn, tính tình trung hậu hào sảng, song hay đi chơi, di chuyển bất định; chí khí cao ngạo, tính tình quật cường; có thể biến sát khí của Thất sát thành quyền uy; có thể biến cái khí bất tường của Hỏa tinh và Linh tinh thành sự trung hòa.

Tử vi hội chiếu với các sao Thiên phủ, Thiên tướng, Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Lộc tồn, Thiên mã, Hóa lộc, Hóa quyền, Hóa khoa mà ở cung vị nhập miếu tất sẽ phú quý xong toàn.

Nếu Tử vi có Lộc Mã giao trì, mà không có Không Kiếp, thì càng chủ về đại phú đại quý.

Nếu như không có các sao như Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Văn xương, Văn khúc vây chiếu, đồng thời Tử vi ở ngôi vị không miếu, đó chính là vị quân vương ở nơi hoang vắng, trở thành vị vua cô độc. Chủ về người có tính tình cô độc, tư tưởng siêu thoát, có thể xuất thế làm tăng, hoặc làm đạo sỹ tìm cầu chân lý.

Tử vi đồng cung hoặc hội chiếu với Phá quân, không có sát tinh, thì nên mưu tính phát triển trong chính giới. Nếu hội chiếu với Lộc tồn, Thiên mã thì có thể buôn bán kinh doanh phát đạt, song nên kinh doanh đến ngành nghề có liên quan đến công cộng hoặc công việc hành chính.

Nếu Tử vi bay đến Thìn địa và Tuất địa thì cuộc đời nhiều trắc trở, có thể phú mà không thể đại quý, hoặc là quý mà không thể đại phú. Sự việc không đươc song toàn, phân nửa là hư không vậy.

Mệnh của người làm ăn kinh doanh bình thường, mà có 4 sát tinh Kình Đà Hỏa Linh cùng tới, chỉ cần sao Tử vi nhập miếu hoặc có Cát tinh khác hội chiếu, cũng có thể phát tài, song phiền nhiễu rắc rối, miệng lưỡi thị phi rất nhiều. Hội chiếu với Kình dương lạc hãm thì chủ về hay gặp miệng tiếng thị phi, kiện cáo.

Sao Tử vi ở cung mệnh, hiện tượng rất phổ biến là tai thì mềm mà lòng hay thay đổi, có thói quen thích đủ thứ.

Nữ mệnh có Thiên phủ và sao phụ cát hội chiếu là mệnh của một vị phu nhân danh giá. Nếu có Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp chiếu hội, lại có thêm Phá quân vây chiếu, thì một đời tự tung tự tác, tuy có phát tài, song khó tránh khỏi dâm ô nhiều chồng. Ở cung Phu mà có sao Tử vi bay đến, thêm Thiên phủ và sao phụ cát cũng chủ về chồng vinh, con quý.

Lưu niên, đại hạn mà có sao Tử vi đến, thì chủ về phúc nhiều lộc hậu, ở thương trường chủ về phát triển, làm quan thì được thăng chức, gặp nhiều cơ hội. Có Thiên phủ đồng độ càng được quý nhân giúp đỡ, đột nhiên danh lợi đều thu về. Nếu có Phá quân đồng độ hay chiếu hội, thì có ý nghĩa bỏ cũ thay mới. Gặp Địa không Địa kiếp, Thiên hao là có khó khăn về kinh tế, gặp những bất lợi như phá tài, đình trệ. Tương hội Kình Đà Hỏa Linh thì càng lo lắng hảo, tranh chấp, bị giáng chức, mất việc làm.

ST

THIÊN CƠ TỌA THỦ CUNG MỆNH – VƯƠNG ĐÌNH CHI

0

Thiên cơ tọa thủ cung Mệnh – Vương Đình Chi

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

1)- Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ
Thiên cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ là nhập miếu, là cung vị có thể phát huy đặc tính của nó một cách cao nhất. Do xung chiếu với Cự môn ở đối cung, chỉ cần Cự môn không hóa Kị, thì sẽ không bị ảnh hưởng bởi điều tiếng thị phi gây nên, mà thiên Cơ còn phát huy được tài ăn nói, mưu trí và quyền biến.
Thông thường, Thiên cơ và Cự môn đối nhau, nếu được Tả Hữu Xương Khúc, Hóa lộc, Hóa quyền, Khôi Việt hội chiếu, thì có thể nắm giữ uy quyền, trở thành người lãnh đạo công ty lớn, hoặc thủ trưởng một bộ môn của chính phủ. Nếu có thêm Lộc tồn Thiên mã vây chiếu, thì nguồn tiền tài càng dồi dào. Nếu Xương Khúc giáp Mệnh, thì chủ về thông minh ưu tú, có thể theo đuổi sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, cũng thích làm cồn việc quảng bá, môi giới. Nếu có sao Cát đến hội, mà gặp thêm Sát tinh, làm việc trong lĩnh vực chính trị hoặc thương nghiệp tuy có thể phú quý, nhưng không được lâu dài, không bằng lợi dụng tính chất của Sát tinh để “tìm cát tránh hung”. Thông thường gặp hóa Kị thì thích hợp công việc quảng bá. Gặp Kình dương thì có thể theo ngành công nghệ, khoa học kỹ thuật, gặp thêm Thiên hình thì có thể làm bác sỹ ngoại khoa. Gặp Hỏa Linh hoặc Kình Đà thì nên có nghề chuyên môn để mưu sinh.
Nữ mệnh Thiên cơ thủ Mệnh độc tọa ở Tí hoặc Ngọ, chủ về khéo léo, thông minh cơ trí, nhưng tính rất ham quyền bính, cũng chủ về biết chăm lo gia đình. Rất ngại Thiên cơ hóa Kị, có thể vì bị kích thích mà đùa giỡn với tình cảm, nếu Cự môn của đối cung hóa Kị, gặp Sát tinh thì nên kết hôn muộn, nếu không sẽ “hình phu khắc tử”.
Cung Mệnh của đại hạn hoặc lưu niên mà gặp Thiên cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thì sự nghiệp có xu thế biến thiên, cần xem các sao mà nó hội hợp để định cát – hung.

2)- Thiên cơ độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi
Thiên cơ độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi là lạc hãm, đặc điểm của nó là đối chiếu với Thiên lương ở đối cung. Cổ nhân nói: “Cơ Lương hội hợp thì giỏi bàn việc binh” (Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh), thực ra câu nói này chẳng biểu thị người này có tài năng quân sự, mà chỉ biểu thị người này thích bàn luận đề tài mà người bình thường không rành, hơn nữa còn biểu hiện phong thái hùng tài vĩ lược, tất nhiên là giỏi biện luận, nhạy bén mưu trí và quyền biến. Thông thường không nên làm công việc kinh doanh buôn bán, có thể trở thành nhân tài tham mưu cố vấn.
Thiên cơ hóa Lộc không những chủ về tiền đến tiền lại đi, mà còn rất khó tích lũy căn cơ, nhưng lại dễ có vận may kiếm tiền một cách đột ngột bất ngờ. Nếu Thiên cơ hóa Quyền có thể làm tăng quyền thế, hoặc có cơ hội quen biết được với những người có quyền thế, quyền lực, tạo nguồn trợ giúp cho sự nghiệp phát triển và nâng cao địa vị của bản thân. Thiên cơ hóa Khoa (can Đinh) ở hai cung Sửu hoặc Mùi, ắt phải được Văn tinh giáp cung, hoặc vây chiếu mới có biểu hiện tốt, chủ về thông minh xuất chúng, ăn nói biện giải trong giao tế có tính thuyết phục một cách chắc chắn, phản ứng nhạy bén.
Thiên cơ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, rất ngại gặp Sát tinh, Kị tinh, cổ nhân nói : “Thiên cơ mà thêm ác sát đồng cung, thì như chó trộm chuột cắp” (Thiên cơ gia ác sát đồng cung, cẩu thâu thử thiết), tức là nói trường hợp ở hai cung Sửu hoặc Mùi. Tất nhiên phải có Sát – Hình – Kị hội chiếu, mà không có Cát tinh hội hợp, mà còn gặp Ânm sát, Thiên hư thì mới đúng. Nhưng cũng chỉ chủ về nhân phẩm con người thấp, vẫn có thể dùng nỗ lực tu dưỡng hậu thiên để bổ cứu.
Nữ mệnh Thiên cơ hóa Kị thủ Mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, thì đặc biệt rất nhiều lo nghĩ và gặp trở ngại về tình cảm, yêu ghét hay do dự thay đổi bất định, nội tâm đau khổ chưa hẳn là do người khác gây ra. Cung Mệnh của đại hạn hoặc lưu niên mà gặp trường hợp này, nếu đứng núi này trông núi nọ, thì sẽ rất bất lợi. Nếu gặp Thiên cơ  hóa Kị và có Sát tinh đồng độ thì buộc phải thay đổi, nhưng sự thay đổi này sẽ bất lợi.

3)- “Thiên cơ Thái âm” đồng độ thủ Mệnh (hoặc Thân)
Tinh hệ “Thiên cơ Thái âm” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cung Tài có Thiên đồng, cung Quan có Thiên lương. Đây là một tinh hệ điển hình của cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, cổ nhân nói: “Cơ Nguyệt Đồng Lương là làm thư lại” (Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân), trong trường hợp này rất là đúng tiêu chuẩn.
Đặc tính các sao của bản cung là xử sự có mạch lạc, lớp lang, ngăn nắp, thứ tự, có thể dựa vào đó để định phương kế và kế hoạch làm việc, cho nên thích hợp làm công chức, hoặc đảm nhiệm chức vụ trong công ty. Xã hội hiện đại xem trọng việc quản lý công ty, rất thích hợp với người có mệnh cách này.
Ở phương diện khác, cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” còn chủ về mệnh tạo thiên về mặt âm nhu, phái nam nhờ vậy mà dễ tiếp cận phái nữ, biết rõ tâm lý nữ giới, phái nữ cũng chủ về dung mạo xinh đẹp, giầu tình cảm, dễ được phái nam theo đuổi.
Nhưng tính cách âm nhu này cũng có thể phát triển thành thủ đoạn xấu bên trong, như kiểu mua chuộc lòng người. Đây cũng là nhân tố cơ bản của “lại nhân” (nhân viên trông coi văn thư trong huyện phủ thời xưa)
ST

TÍNH CHẤT CÁC SAO Ở CUNG MỆNH VÀ CUNG THÂN – VƯƠNG ĐÌNH CHI

0

Tính chất các sao ở cung Mệnh và cung Thân – Vương Đình Chi

(Tuvivietnam – Siêu tầm)

      Trong Đẩu Số, dùng cung mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung mệnh.
Cung mệnh đối nhau với cung Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vạn trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không, .v.v…
Do đó cung mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.
Còn cung thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển hậu thiên của người đó. Nếu cung mệnh cát, cung thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung mệnh cát, nhưng cung thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung mệnh không cát, cung thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu. Đại hạn có cung mệnh của đại hạn. Lưu niên có cung mệnh của lưu niên.
TỬ VI
1)- Tử vi độc tọa ở cung Tí hoặc Ngọ thủ cung Mệnh hay Thân.
Tử vi độc tọa, ở cung Tí không bằng ở cung Ngọ, bởi vì khi ở cung Ngọ là nhập miếu, tài lãnh đạo và lực điều hòa với lực chế hóa đều lớn hơn khi độc tọa ở cung Tí, vì vậy địa vị và tài phú cũng đều hơn hẳn.
Tử vi độc tọa, ngoài việc ưa “bách quan triều củng” ra, còn ưa Tả phụ, Hữu bật giáp mệnh, Văn xương Văn khúc giáp mệnh, Long trì Phượng các giáp mệnh, thảy đều có thể làm tăng khí thế và giảm bớt vất vả.
Nếu là “tại dã cô quân”, còn gặp các sao “không” như Thiên không, Địa không, thì thích hợp làm người truy tìm chân lý, thành nhân vật tôn giáo, cũng có thể thành nhân vật lãnh đạo. Gặp Hoa cái, khuynh hướng tôn giáo tín ngưỡng càng sâu, hơn nữa còn thích tìm hiểu về việc thần bí.
Tử vi độc tọa, mà gặp các sao Phụ – Tá – Sát – Hóa, thì cần phải xét xem các sao cát hung nhiều ít thế nào, sức mạnh của chúng ra sao, để định tốt xấu. Thông thường phần lớn trường hợp đều chủ về có lý tưởng cao nhưng sức mạnh hành động không đủ, cần phải dùng hậu thiên để bổ cứu (nhân mệnh), để nỗ lực thực hiện lý tưởng.
Nếu như không có sao Cát hội hợp, mà chỉ gặp Sát tinh, thì rất dễ cảm thấy có tài mà không gặp thời, nên làm việc ở lĩnh vực kinh doanh thương mại. Chỉ cần Sát tinh nhập miếu, mà Sát tinh không nhiều, thì vẫn có thể hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại mà trở nên giầu có. Tốt nhất là được Hóa Lộc hoặc Lộc tồn hội hợp, dễ giầu có mà còn có địa vị trong xã hội, nhất là càng dễ phát triển trong giới thương nghiệp. Nếu theo lĩnh vực chính trị, văn hóa, giáo dục, thì trái lại, sẽ gặp nhiều trắc trở, bất đắc chí.
Sát tinh nặng, thông thường đều chủ về bất hòa, tranh chấp thị phi. Nhất là gặp phải Kình dương lạc hãm, càng chủ về kiện tụng, hoặc phẫu thuật ngoại khoa
Tử vi độc tọa, cũng ưa hóa Quyền (can Nhâm) hóa Khoa (can Ất), khi hóa Quyền thì làm tăng tài lãnh đạo và có sức cạnh tranh, khi hóa Khoa thì có tiếng tăm, hơn nữa theo ngành nghiên cứu học thuật thì có thể dung hợp được các thuyết mà sáng tạo ra cái mới. Nhưng đều khiến cho mệnh tạo tăng mạnh tính chủ quan, nên khó tiếp thu ý kiến của người khác. Đây là đặc thù khi gặp hóa diệu Khoa Quyền.
Trường hợp Tử vi chỉ gặp một hai sao Sát – Kị, thì lại chủ về dễ nghe lời nói xấu, dèm pha, thị phi.
Phàm Tử vi độc tọa, đối cung ắt sẽ gặp Tham lang, chủ về hiếu sắc, có các sao đào hoa hội hợp thì càng nặng. Nếu chỉ hội hợp Thiên hình, thì chủ về tự bản thân biết kiềm chế, gặp Đà la cũng có thể tự kiềm chế.
Trong đại hạn hoặc lưu niên, Tử vi độc tọa tại cung hạn, cần phải xét kỹ các sao hội hợp để định cát – hung. Gặp cát tinh thì chức vị thăng tiến, thượng vụ phát triển, phúc lộc đều hậu hỉ, nếu gặp Địa không, Địa kiếp, sao Hao, thì chủ về nguồn kinh tế khó khăn hoặc phá tài, có Sát tinh tương hội thì chủ về bất hòa tranh chấp, trong làm ăn có thể dẫn đến đình trệ, trong chức vụ có thể bị giáng chức, hoặc bị truất phế.
2)- “Tử vi Phá quân” thủ cung Mệnh hay Thân
Tử vi ở hai cung Sửu hoặc Mùi, luôn có Phá quân đồng độ, đây là kết cấu tinh hệ rất có khí lực khai sáng. Phá quân vốn là chiến tướng tiên phong, được Tử vi cầm cương điều khiển (là đặc thù của Phá quân cần phải có người cầm cương nảy mực), lực phá hoại của Phá quân nhờ vậy mà được giảm thiểu, sắc sáng tạo trái lại sẽ tăng. Tuy đời người không tránh được vất vả, nhưng nhờ có tài lãnh đạo, có tính quyết đoán, nên cũng chủ về trải qua vất vả mà có được thành tựu.
Nhưng lúc Phá quân hóa Quyền (can Giáp), sẽ làm tăng tính chất biến động của Phá quân, vì vậy mà đời người cành thêm thay đổi. Nếu có Tả Hữu đủ “cặp đôi” hội hợp, có thể giảm thiểu vất vả. Nếu gặp tứ Sát, thì chỉ thích hợp làm việc trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, và cần phải chú ý tính chất sáng tạo cái mới trong kinh doanh.
Nếu Phá quân hóa Lộc (can Quý), đồng thời với sự khai sáng là cơ hội kiếm tiền, khiến cho sinh hoạt vật chất của người này được sung túc, bù đắp cho những vát vả đã trải qua. Nhưng như vậy, đồng thời cũng chủ về tình cảm gặp nhiều tình huống rắc rối khó xử, hơn nữa, sẽ khiến cho mệnh tạo thiên về hưởng thụ nhục dục. Bởi vì lúc này sẽ gặp tinh hệ “Liêm trinh Tham lang” ở cung Tỵ, do hội hợp với Phá quân hóa Lộc mà phát huy tác dụng.
Bất kể Phá quân hóa Quyền hay hóa Lộc, cũng đều có thể khiến cho mệnh tạo trở thành phú quý. Nhưng nếu đồng thời hội hợp với các sao Sát – Hình – Kị, thì tuy giầu có sung túc nhưng lại dễ chuốc điều tiếng thị phi. Gặp Kình dương, Thiên hình, Hóa Kị, còn dễ vướng vào tranh chấp kiện tụng, thích hợp theo binh nghiệp hoặc ngành pháp luật.
Tinh hệ “Tử vi Phá quân” chủ về biến động, cho nên trong kinh doanh làm ăn cần phải chú ý cơ hội đến bất ngờ, hơn nữa, có khả năng đồng thời kinh doanh hai ba lĩnh vực có liên quan với nhau. Nếu là nhân làm thuê, thì chủ về khiêm thêm ngành nghề, kiêm thêm chức vụ, hoặc làm tăng ca, nhưng nhất định sẽ một mình đảm trách công việc.
Tinh hệ “Tử vi Phá quân” đóng cung mệnh là người thẳng thắn. Nhưng nếu gặp Hoa cái, thì thích hợp nghiên cứu Tôn giáo hoặc triết học.
Có điều, do mệnh tạo hay lo toan nghĩ ngợi về nhiều biến động, vả lại Thiên phủ ở cung Phúc chủ về lo toan chu đáo, nên khi gặp các sao Sát, sao “không” có lúc sẽ bộc lộ tính cách tư lự, ích kỷ. Cổ nhân nói: “Tử Phá làm tôi thần bất trung, làm con bất hiếu” (Tử vi Phá quân, vi thần bất trung, vi tử bất hiếu), cổ nhân còn nói: “Tử Phá đồng cung, mà không có Tả Hữu, không có cát tinh, là phường quan lại hung ác” (Tử Phá đồng cung vô Tả Hữu, vô cát diệu, hung ác tư lại chi đồ), tức là đã chỉ ra bản tính tự kỷ, ích kỷ, và khuynh hướng hay lo toan nghĩ ngợi của mệnh tạo. Nhưng chỉ cần có Cát tinh hội hợp, thì những tính cách không lành này sẽ giảm nhẹ, thậm chí tiêu trừ.
Đại hạn hoặc lưu niên gặp tinh hệ “Tử vi Phá quân”, chủ về “Khứ cựu canh tân” (bỏ cũ để đổi mới), được sao Cát hội hợp, đương nhiên biến động sẽ cát lợi. Nếu gặp Sát tinh, thì nên suy nghĩ kỹ, không được vội vã thay đổi. Nếu Cát tinh và Sát tinh đều có, thì phải xem đến vận hạn sau, soát xét xem có Cát hay không để quyết định làm hay dừng.
3)- “Tử vi Thiên phủ” thủ cung Mệnh hay Thân
Hai sao Tử vi và Thiên phủ đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân. Tử vi là chủ tinh của Bắc Đẩu, tính thích hợp khai sáng. Thiên phủ là chủ tinh của Nam Đẩu, tính lợi về bảo thủ. Cho nên khi hai chủ tinh gặp nhau, không những xung đột “một núi không thể có hai cọp”, mà tính chất còn kiềm chế nhau, sẽ khó phát huy.
Thông thường, chỉ chủ về thanh cao, thậm chí có khả năng phát triển thành tự sùng bái mình. Kết cấu tinh hệ kiểu này, rất nên theo sự nghiệp giáo dục, làm công chức cũng được, không thể theo nghiệp kinh doanh, nếu không sẽ có phản ứng sai lầm, hành động không mang lại hiệu quả tốt cho bản thân, thường đánh mất cơ hội, hoặc “khéo quá thì biến thành vụng”.
Khi Tử Phủ đồng cung, nếu Tử vi hóa Quyền (can Nhâm) hoặc hóa Khoa (can Ất), thì vầng hào quan của Tử vi càng lớn, khí quý phái cũng lớn. Nếu Thiên phủ hóa Khoa (can Nhâm) thì chỉ có khuynh hướng giữ uy tín, xem trong lời hứa, nhưng sẽ quá khiêm cung hiền lành, thiếu năng lực lãnh đạo và khai sáng mọi thứ từ thực tế.
Kết cấu tinh hệ Tử Phủ rất nên có cách “Lộc Mã giao trì cách” đến hội hợp, chủ về phú quý song toàn, kế đến là “Lộc Văn củng mệnh cách”, tức là Lộc tồn hoặc Hóa Lộc và Văn xương Văn khúc hội hợp, cũng chủ về phú quý, kế đó nữa là các sao Phụ diệu, Tá diệu hội hợp, chủ về quý mà không chủ về giầu có.
Nếu các sao Phụ diệu và Tá diệu không hội hợp, mà có đủ tứ Sát: Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, thì trái lại, thì sẽ chủ về bề ngoài trung thành mà bên trong gian trá, phần nhiều hay tráo trở thị phi, nếu gặp sao “không”, hoặc Không Vong, thì chủ về là người cô độc, tầm thường, kiếm sống qua ngày.
Nữ mệnh gặp tinh hệ Tử Phủ, nếu Tham lang của cung Phúc hội hợp với các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Thiên diêu, thì nên xem trọng sinh hoạt tình cảm, nếu cung Mệnh có các sao Sát – Hình tụ tập đủ, thì có thể làm kế thất, hoặc do quá tự sùng bái mình mà suốt đời không kết hôn.
Cung Mệnh của đại hạn, hoặc lưu niên gặp Tử Phủ, thì cát lợi hơn so với gặp ở cung Mệnh nguyên cục, chủ về được quý nhân trợ lực, dễ phát đột ngột. Nếu gặp Khôi Việt, hoặc lưu Khôi lưu Việt, thì có thể nhờ thay đổi mệnh lệnh, hoặc Cty thay đổi quy tắc mà được lợi. Trong làm ăn phần nhiều không cầu mà bỗng nhiên gặp may.


4)- “Tử vi Tham lang” thủ cung Mệnh hay Thân
Tử vi và Tham lang đồng độ ở hai cung Mão Dậu, cổ nhân gọi cách này là “Đào hoa phạm chủ”, cho rằng chủ về dâm loạn, cho nên gặp “Tử vi Tham lang” đồng cung, rất kị gặp thêm các sao đào hoa Hồng loạn, Thiên hỷ, Hàm trì, Đại hao, Thiên diêu, Mộc dục, nếu không sẽ chủ về mất kiềm chế trước sức hấp dẫn của người khác giới, nếu còn gặp thêm Sát tinh, thì vì sắc đẹp mà gặp họa. Dù không gặp Sát tinh thì cũng ảnh hưởng đến sự nghiệp tương đối sâu sắc.
Nếu Tử vi hóa Quyền (can Nhâm) được “bách quan triều củng”, thì giống như thiên tử phong lưu ở thời thái bình, chủ về phú quý đa tình. Khi Tử vi hóa Khoa (can Ất) gặp sao Cát, tuy có tiếng tăm và học có thành tựu, nhưng vẫn thiên nặng về dục tình và ham muôn vật chất.
Nếu Tham lang hóa Lộc (can Mậu) thì chủ về một năm giao tế thù tạc nhiều, thên nặng về ham muôn vật chất, nhưng lại có tài vận hanh thông. Khi Tham lang hóa Quyền, ham muốn vật chất cũng nặng, nhưng phải trải qua cạnh tranh mới thành tựu. Khi Tham lang hóa Kị, tuy có giảm sắc thái đào hoa, nhưng về tài nghệ thì lại khó phát triển, nhiều ham muốn vật chất nhưng cũng khó mà toại nguyện.
Tinh hệ “Tử vi Tham lang” ưa gặp Tả phụ Hữu bật đồng cung, mà không ưa Văn xương Văn khúc. Nếu Xương Khúc đồng cung, thì khuynh hướng hấp dẫn người khác giới càng lớn, mà lại còn quá chú trọng trang điểm, chải chuốt, biểu hiện bề ngoài hoàn mỹ, cho nên hành sự “giả” nhiều mà “thực” ít. Nếu Tả phụ và Văn xương, hoặc Phụ bật và Văn khúc giáp cung Mệnh, thì trái lại, sẽ dễ phát huy tài chí, sự nghiệp có thành tựu. Cổ nhân nói “Tả Hữu Xương Khúc giáp chế”, theo bí truyền của Trung Châu phái, đây là nói về cách “giao thoa nhau mà giáp cung mệnh”, bởi vì Tử Tham vĩnh viễn không có khả năng được “Tả Hữu giáp mệnh” hay “Xương Khúc giáp mệnh”.
Tử Tham gặp Sát tinh, chỉ nên hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, nhưng Sát tinh nặng thì có thị phi tranh chấp. Nếu lại gặp sao “không” và Hoa cái thì trái lại, sẽ sinh nhai bằng hoạt động tôn giáo.
Nữ mệnh gặp Tử Tham, gặp đào hoa và Sát tinh, dễ rơi vào chốn phong trần, kị nhất là gặp Kình Dương. Nếu có các sao đào hoa tụ tập, nguy cơ rơi vào chốn phong trần càng lớn, đồng thời cũng vì vậy mà ham muôn vật chất có khuynh hướng trụy lạc. Nếu cung Mệnh ở Dậu, mượn Tử Tham của cung Mão để nhập cung, thì càng phải nên chú ý.
Cung Mệnh của lưu niên hay đại hạn mà gặp Tử Tham, thì tính đào hoa sẽ nhẹ hơn khi gặp ở cung Mệnh nguyên cục. Thông thường, nếu hội hợp với sao Cát, thì chủ về ít có sự biến động thay đổi, ít tiến bộ. Nhưng nếu các Sát tinh cùng tụ tập, mà không gặp các sao Hình – Kị, thì lại có thể tiến bộ. Còn nếu các Sát tinh cùng tụ tập, lại gặp thêm các sao Hình – Kị, thì có thể vì sắc mà phá tài, chuốc họa, hoặc vì thù tạc mà chuốc lấy điều tiếng thị phi.

5)- “Tử vi Thiên tướng” thủ cung Mệnh (Thân)


Tử vi Thiên tướng đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Tử vi là đế diệu, Thiên tướng là sao “ấn”, thoạt nhìn thì có vẻ là một kết cấu rất lý tưởng, nhưng khi hai sao này đồng cung, thì lại vì Phá quân ở đối cung mà thay đổi tính chất. Phái Trung Châu xem trọng đặc tính của toàn bộ kết cấu của các tinh hệ, đây là một ví dụ.
Tinh hệ Tử Tướng rất ưa được Lộc tồn hội chiếu, có thể giầu có, nhưng thành kiến chủ quan cực sâu, mà còn thích tranh quyền, nên dễ bị người ta dạt bỏ, chèn ép. Nếu không có Lộc tồn, mà Tử vi hóa Quyền (can Nhâm), thì tính thích tranh quyền càng kịch liệt, còn nếu Tử vi hóa Khoa (can Ất), tính thích tranh quyền tuy có hơi giảm, nhưng lòng tự tôn và trọng danh dự càng nặng, dễ bị người ta úy kị.
Nếu không gặp Lộc Quyền Khoa, thì tinh hệ này ưa được “bách quan triều củng”, mà không ưa các sao Sát Kị hội hợp. Nếu được Tả phụ Hữu bật Văn xương Văn Khúc hội chiếu thì sự nghiệp có thể thành tựu, là nhân vật lãnh đạo, tính tình ôn hòa đôn hậu. Nhưng vì ảnh hưởng của Phá quân ở đối cung, nên trong đời ắt phải trải qua một lần sóng gió trắc trở.
Nếu không gặp Cát tinh, mà có tứ Sát hội hợp, thì lấy trường hợp Kình Đà là khá tốt, thích hợp hoạt động trong lĩnh vực thương mại. Nếu gặp Hỏa Linh, do gặp Hỏa Linh phải hao phí sức lực hóa giải nên tăng thêm vất vả gian khổ. Giả dụ như gặp Hỏa Linh mà còn gặp thêm Không Kiếp, hay Thiên hình, thì có thể gặp bất hạnh, tinh thần hay bị kích thích, hoặc mắc bệnh tim. Phàm Tử Phủ thủ Mệnh, dù không gặp Sát tinh, cũng nên chú ý sức khỏe tim mạch và tu dưỡng tinh thần.
Nếu có nhiều Sát tinh hội hợp, chủ về phát lên một cách nhanh chóng rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng, mà còn dễ có biểu hiện vô tình vô nghĩa. Nếu có sao Cát tương hội, thì chủ về đời người trải qua nhiều sóng gió, trắc trở, hoặc cuộc đời có sự thay đổi đặc biệt, hoặc gặp bất hạnh bất ngờ, hoặc là gặp cơ hội tốt. Nhưng trong ngẫu nhiên vô tình vẫn có biểu hiện tình nghĩa lạnh nhạt.
Nữ mệnh gặp tinh hệ “Tử vi Thiên tướng”, cần chú ý sinh hoạt tình cảm, đồng thời cũng lưu ý đặc tính vô tình vô nghĩa của tinh hệ này, mà biết tự kiềm chế thì mới tốt lành, nhưng trong tình yêu ắt thường nổi sóng.
Cung Mệnh của lưu niên hay đại hạn có “Tử vi Thiên phủ”, nếu gặp các sao Sát Kị, ắt sẽ bị gặp nhiều trở ngại, rồi sinh lòng thay đổi, như mong muốn thay đổi việc làm nhưng lại không được, gặp Cát tinh thì vận hạn thuận lợi toại ý, sự nghiệp có thành tựu.6)- “Tử vi Thất sát” thủ cung Mệnh hay cung Thân

“Tử vi Thất sát” đồng độ ở hai cung Tỵ hoặc Hợi. Tử vi là đế diệu, Thất sát là tướng tinh, hai sao này mà đồng cung sẽ có uy không ai so bì được. Cho nên, Tử Sát chủ về giầu tính khai sáng, hơn nữa còn có tư tưởng độc đáo.
Thông thường, Tử Sát có thể xem là tượng trưng của quyền lực, cho nên Tử vi không nên Hóa quyền, vì như vậy sẽ “kích phát” về lòng ham muốn quyền lực lên quá cao, có biểu hiện khí “bá đạo” mà những người khi tiếp xúc khó mà nhịn được. Điều này gây ảnh hưởng đến mối quan hệ bền vững và để lại hậu quả lâu dài rất sâu sắc.
Tử Sát rát nên được các sao Cát hội chiếu. Như Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Lộc tồn, Thiên mã hội hợp , thì tính “cương dũng” của Thất sát có đất dụng võ. Cái gọi là “hóa sát làm quyền” là cách cục này. Nhưng giả dụ không có sao Cát hội chiếu, thì giống như anh hùng thảo dã làm giặc cướp, khó tránh có biểu hiện tàn nhẫn bá đạo, chủ về phát lên một cách nhanh chóng rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng. Nếu như không có sao Cát, mà còn có Sát tinh hội hợp, thì khó tránh “hình thương, khắc hại”.
Nữ mệnh gặp Tử Sát, về phương diện sinh hoạt hôn nhân, sẽ không có trở ngại gì lớn, nhưng nếu gặp Sát tinh hội chiếu, thì chủ về cô độc.
Đại hạn hoặc lưu niên gặp Tử Sát, nếu còn gặp Sát tinh, thì tuy có cơ hội thay đổi, nhưng lại khó được như nguyện. Nếu có Cát tinh tụ hội, thì chủ về trải qua thay đổi mà được cát lợi.
ST
- Advertisement -