TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 19

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

(Tuvivietnam – siêu tầm)

31. 刑 非 刑 合 非 合 為 少 支 神
Hình phi Hình, Hợp phi Hợp vị thiểu chi thần
Hình chẳng Hình, Hợp chẳng Hợp vì thiếu địa chi.
Hình là Tam hình, Hợp là Hợp cục. Như Dần Tị Thân là Tam hình, Sửu Tuất Mùi là Tam hình, Tí Mão là Nhị hình, Thìn, Ngọ, Hợi, dậu là Tự hình. Giả như trong quẻ có hai chi Dần và Tị mà thiếu Thân, có hai chi Dần Thân mà không có Tị, có hai chi Tị Thân mà không có Dần, là thiếu mất một chi mà không thành Hình.
Như Hợi Mão Mùi là Tam hợp , Thân Tí Thìn là Tam hợ, Tị dậu Sửu là Tam hợp, Dần Ngọ Tuất là Tam hợp. Giả như có Hợi, Mão mà không có Mùi; có Mùi Mão mà không có Hợi, có Hợi Mùi mà không có Mão, là thiếu một chi mà không thành Hợp.
Phép Tam hình, Tam hợp cần phải trọn vẹn các chi, có hai hào động tất hợp được một hào, nếu chỉ một hào động thì không thể hợp được hai hào kia. Như trong quẻ Hình Hợp đều có đủ các hào nhưng đều an tĩnh thì chẳng thành Hình Hợp. Như vậy mà chiêm nghiệm tất sẽ rõ ràng thông suốt.

32. 爻 遇 令 星 物 難 我 害
Hào ngộ lệnh tinh, vật nan ngã hại
Hào gặp Nguyệt kiến, vật khó hại ta.
Lệnh tinh là Nguyệt kiến, Vật là động hào ở trong quẻ. Nếu Dụng thần là Nguyệt kiến , mà Nguyệt kiến tức nắm quyền lệnh. Nếu động hào thương khắc, đâu đáng sợ. Cho nên bảo là :Vật khó hại ta.

33. 伏 居 空 地 事 與 心 違
Phục cư Không địa sự dữ tâm vi
Phục tại Tuần không việc trái với lòng.
Phục là Phục thần. Sáu hào trong quẻ thiếu Dụng thần, phải tra Dụng thần ở quẻ đầu của cung chứa quẻ này để xem phục tại hào tương ứng trong quẻ, hào này là Phi. Phi thì hiện rõ mà Phục thì ẩn tàng. Nếu sáu hào trong quẻ không có Dụng thần, Dụng thần phải phục mà lại lâm Tuần không, nếu chẳng được đề bạt, mưu sự chắc chắn chẳng thành tựu. Cho nên mới bảo “việc trái với lòng”.

34. 伏 無 提 拔 終 徒 爾
飛 不 推 開 亦 枉 然

Phục vô đề bạt chung đồ nhĩ

Phi bất suy khai diệc uổng nhiên.
Phục chẳng được đề bạt cuối cùng cũng vô ích
Phi không được suy khai cũng uổng công.
Câu này cũng nối ý với câu trên. Phục là nói Dụng thần không hiện trong quẻ phải ẩn phục dưới hào khác. Nếu không có Nhật thần, động hào sinh phù củng hợp, tức Phục không được đề bạt. Phi là hào mà Dụng thần phục ở dưới nó, là thần hiển lộ. Suy là xung, ý nói xung khai Phi thần khiến cho Phục thần thoát ra được.

35. 空 下 伏 神 易 於 引 拔
Không hạ Phục thần dị ư dẫn bạt
Phục thần dưới hào Không thì dễ kéo ra.
Câu này nói Phục thần ở dưới Phi thần lâm Tuần không Hào Phi này đã lâm Không, giống như không níu kéo được nên Phục thần đễ kéo ra ngoài. Dẫn là thần củng phù, Bạt cũng là Sinh phù củng hợp, ý nói xung hào Phi để kéo ra hào Phục.

36. 制 中 弱 主 難 以 維 持
Chế trung nhược chủ nan dĩ duy trì
Suy nhược bị chế khó duy trì.
Chế là nói bị Nguyệt kiến, Nhật thần khắc chế. Nhược chủ chỉ hào suy nhược. Như Dụng thần bị suy nhược mà lại bị Nhật Nguyệt xung khắc, nếu được động hào sinh cũng có trợ giúp. Vốn là hào suy nhược mà gặp Nhật Nguyệt khắc, như cành khô cây mục. Nếu có mưa thấm nhuần cũng khó mong sinh rễ mới. Đây là đề cập đến Dụng thần xuất hiện, nếu lại là Phục thần dù có được Tính dẫn[1] cũng vô dụng.

37. 日 傷 爻 真 罹 其 禍
爻 傷 日 徒 受 其 名

Nhật thương hào chân li kỳ hoạ

Hào thương Nhật đồ thụ kỳ danh
Nhật khắc hào mới thật gặp hoạ
Hào khắc Nhật chỉ mang lấy danh)
Nhật thần là chúa tể của sáu hào, nắm hết mọi việc. Sáu hào là bề tôi của Nhật thần, phân ra mà coi mọi việc. Vì thế Nhật thần có thể hình xung khắc hại được các hào, mà hào trong quẻ không thể hình xung khắc hại Nhật thần. Nguyệt kiến đối với hào trong quẻ cũng thế.

38. 墓 中 人 不 冲 不 發
Mộ trung nhân bất xung bất phát
Người trong Mộ không xung chẳng phát.
Tổng quát Dụng thần nhập Mộ thì nhiều cản trở, mọi việc tốn sức mà chẳng thành, nên đợi Nhật thần hay động hào xung, hoặc xung khắc hào Mộ mới được hữu dụng. Sách xưa bảo rằng:” Xung Không tức khởi, Phá Mộ tắc khai” (Xung Không thì làm trở dậy, Phá Mộ thì mở ra)

39. 身上 鬼不 去 不 安
Thân thượng Quỷ bất khử bất an
Quỷ bên Thân không khử không yên.
Thân là mượn để nói đền Thế hào. Nhưng phàm Quan Quỷ trì Thế, nhưng mình không phải là người có chức vị thì hào Quan Quỷ là thần trở ngại ưu nghi, nên được Dụng thần, động hào xung khắc mà khử đi, mới được yên mà không lo. Hoặc Kỵ thần lâm ở Thế cũng như vậy, nhưng không thể quá khắc, sợ ta cũng bị thương. Tiên thánh nói: “Nhân nhi bất nhân tật kỷ thậm, loạn dã” (Người đã bất nhân, ghét quá sức thì nó làm loạn). Chỉ quí ở chỗ trung hoà mà thôi.[2]

40. 德 入 卦 而 無 謀 不 遂
忌 臨 身 而 多 阻 無 成

Đức nhập quái nhi vô mưu bất toại
Kỵ lâm Thân nhi đa trở vô thành
Đức có ở trong quẻ không mưu tính gì không toại ý
Kỵ ở Thân thì nhiều trở ngại mà không thành.
Đức là hợp. Trong hoà hợp có ân tình đức nghĩa. Cho nên phàm mưu sự gì mà Dụng thần động hợp Thế hoặc Dụng thần hoá thành sinh hợp, hoặc Nhật thần lâm Dụng hợp Thế, hoặc Nhật thần sinh hợp Dụng hào đều gọi là Đức vào trong quẻ, thì không mưu sự gì không toại ý. Nhưng mà hợp xứ phùng xung thì e có biến động. Nếu Kỵ thần mà như thế thì nhiều cản trở khó thành.

[1] Dùng theo ý của tác giả : Tính là Nhật thần lâm tại hào này, Dẫn là củng phù. Như vạy thì trái với ý ở trước là hào này bị Nhật Nguyệt khắc thương.

[2] Luận với Kỵ thần lâmThế không hoàn toàn đúng như vậy. Nếu Thế vượng dù trì Kỵ thần, xem cho mình thì mọi việc cũng không thể xấu được

Chia sẻ.