26.2 C
Hanoi
Thứ Bảy, 6 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 57

Cung phụ mẫu phi hóa

0

 

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung phụ mẫu phi hóa

(1) Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc:

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Cha mẹ rất quan tâm chăm sóc mệnh tạo, duyên phận sâunặng.

Quan hệ tốt đẹp với cấp trên hay trưởng bối, thường được họ quan tâm.

Đi đòi nợ có thể thuận lợi.

Người phối ngẫu có thể giúp vốn cho sự nghiệp của mệnhtạo.

Mệnh tạo là người thích học hành, có thành tích cao.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Tình cảm của cha mẹ tốt đẹp, họ rất quan tâm chăm sóc anh chị em mệnh tạo, còn có thể chu cấp cho sinh kế gia đình.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Cha mẹ hoặc trưởng bối trọ giúp nhiều cho sự nghiệp của mệnh tạo, tình thân hòa hợp, sự nghiệp hưng vượng.

Người phối ngẫu được gia đình của mình quan tâm và giúpđỡ.

Người phối ngẫu rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn giao du với bạn bè khác giới.

Quan hệ của người phối ngẫu với cha mẹ mệnh tạo khá tốt đẹp, thường được quan tâm chiếu cố.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Con cái thông minh, rất có duyên với người chung quanh, cótài năng.

Cha mẹ rất quan tâm con cái của mệnh tạo, tinh càm gia đinhrất tốt.

Cha mẹ thường đi nơi khác để kiếm tiền, thích ra bên ngoài giao tế thù tạc, quan hệ giao tế khá tốt.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Mệnh tạo và bạn bè thường tiêu xài tiền chung vói nhau.

Cha mẹ có tài vận tốt, kiếm tiền nhẹ nhàng, có vận kiếm tiền bất ngờ, nhưng cơ thể hai yếu.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Mệnh tạo bẩm sinh có thể chẩt rất tốt, cơ thể khòe mạnh, động tác nhanh nhạy.

Cha mẹ rất có duyên với người chung quanh, quan hệ tốt đẹp, họ rất quan tâm mệnh tạo.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Giữa mệnh tạo và cha mẹ có tình cảm rất tốt đẹp, cha mẹ rất quan tâm mệnh tạo.

Lúc nhỏ mệnh tạo học hành có thành tích tốt, tính hiếu động, thích ra ngoài, ở bên ngoài tâm tình vui vè.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Cha mẹ khỏe mạnh, sống khá thọ, sự nghiệp có thành tựu.

Ông chủ hoặc bạn bè có vốn liếng hùng hậu.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Cha mẹ có sự nghiệp thành tựu, mệnh tạo có thể được thừa kế gia nghiệp, gia nghiệp hưng thịnh, đại phát tài lộc.

Bà con dòng họ của người phối ngẫu có trợ lực cho sự nghiệp cún mệnh tạo.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Sự nghiệp hưng thịnh, nguồn tiền rộng và mạnh, gia vận tốt, cuộc sổng sang trọng, thoải mái vui vẻ.

Cung phụ mẫu phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Cha mẹ tính tình cỡi mở, thích giao tế, xem trọng chuyện hường thụ, ưa thể diện, vì muốn chiếm cảm tình mà tiêu xài tiền rất rộng rãi.

Cha mẹ rất quan tâm mệnh tạo, giúp đỡ nhiều, mệnh tạo có thê được hưởng phước.

Cung phụ mẫu tự Hóa Lộc:

Là người có khí độ lớn, có thể làm chủ hoặc ở cấp chủ quản.

Thông minh, thành tích tốt; lúc còn đi học được thầy cô thương yêu; lúc đi làm được mõi người mến.

Có phúc ấm của tổ tiên, nhưng không giữ được.

Cha mẹ là người khiêm tốn, có tính độc lập, có duyên với người chung quanh, còn có khẩu tài, rộng rãi mà nhiệt tình.

Người phối ngẫu xuất thân từ gia đình giàu có. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

(2) Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền:

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Mệnh tạo nỗ lực làm việc, có thể được cha mẹ, trưởng bối quan tâm và hỗ trợ, quá trình trưởng thành rất đắc ý.

Là người ưa cãi lí, không chịu thua.

Lúc mệnh tạo đi đòi nợ, phải làm mặt “ngầu”, nhưng cũng không nhất định người ta sẽ trả đủ.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Anh chị em phần nhiều là người có tài năng, tính tình cương nghị, có tác phong làm việc quả quyết.

Cha mẹ dạy dỗ anh chị em mệnh tạo khá nghiêm khắc, phần nhiều phải cạnh tranh với bạn bè đồng sự.

Cha mẹ có thể chu cấp cho sinh kế gia đình.

Giữa cha mẹ thường xảy ra tranh chấp ý kiến.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung phu thê:

Bản thân mệnh tạo có tài năng, có trí tuệ, được cha mẹ hoặc trưởng bối chỉ dẫn, thêm vào đó còn được gia đình của người phối ngẫu trợ lực, khiến công việc hay sự nghiệp có thành tựu.

Cha mẹ của mệnh tạo dạy dỗ con cái nghiêm khắc.

Sự nghiệp của cha mẹ có thành tựu.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyên nhập cung tử nữ:

Con cái của mệnh tạo có tài năng, có khả năng làm việc độc lập, thông minh, có lực xung kích.

Cha mẹ của mệnh tạo dạy dỗ con cái nghiêm khắc.

Cha mẹ có địa vị xã hội.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Mệnh tạo hợp tác với người khác bằng nghề chuyên môn của mình, có thế kiếm tiền.

Cha mẹ có thể cho tiền giúp đõ mệnh tạo đầu tư sáng lập cơ nghiệp, có thể kiếm tiền.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Mệnh tạo có cơ thể cường tráng, có thể lực tốt, nghịch ngợm, hiếu động.

Mệnh tạo có tính tình cương cường, cố chấp, không chịu nghe lời nói thằng, ưa ra oai.

Cha mẹ ở bên ngoài được người ta xem trọng.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Cha mẹ của mệnh tạo dạy dỗ con cái nghiêm khắc, không thể trò chuyện trao đổi với nhau.

Cha mẹ ờ bên ngoài cạnh tranh với nhiều người, được người ta kính trọng, nhưng cũng dễ có thị phi.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Cha mẹ có cơ thể khỏe mạnh, làm lụng vất vả đến già vẫn không chịu nghỉ.

Cha mẹ sẽ can thiệp vào chuyện chọn đối tượng giao du của mệnh tạo.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Bản thân nỗ lực, còn được cha mẹ hoặc trường bối trợ lực, khiến công việc hay sự nghiệp đều được nâng lên.

Bạn bè muốn đầu tư vào sự nghiệp của mệnh tạo, có thế kiếmtiền.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Gia nghiệp do cha mẹ quản lí.

Nhờ có người phối ngẫu gia đình trợ lực mà phát tài.

Cung phụ mẫu phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Cha mẹ ưa phô trương, vung tay rộng rãi, dám hưởng thụ. Mệnh tạo ưa tranh với bạn bè để được chú ý, vì vậy mà hao tài, chuốc tổn hại cho bản thân.

Cung phụ mẫu tự Hóa Quyền:

Cha mẹ có quyền thế.

Mệnh tạo là người có tài năng, nhậm chức dễ thăng tiến.

Thiếu phúc ấm của tổ tiên, có tác phong làm việc quà quyết, tự kinh doanh làm ăn, có thể trờ thành nhân vật có tiếng tăm trên thương trường.

Người phối ngẫu có duyên với người chung quanh, có tài năng, thích nắm quyền, xem trọng tiền bạc, bà con dòng họ của người ấy nhiều thị phi, hay tranh chấp ý kiến. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

(3) Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa:

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Được cha mẹ hoặc trường bối quan tâm; quan hệ giao tế với cấp trên rất tốt, công việc nhẹ nhàng, đắc ý.

Lúc đòi nợ bạn bè, sẽ nói khéo léo để thuyết phục họ trà, bạn bè sẽ trả làm nhiều kì.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Cha mẹ có kế hoạch rất tốt về sinh kế gia đình, có thể làm chongười nhà về sau không cần lo lắng.

Cha mẹ sống với nhau rất tốt, hòa hợp.

Cha mẹ rất quan tâm chăm sóc anh chị em mệnh tạo.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo được cha mẹ hoặc trưởng bối quan tâm giúp đỡ, gia đình của người phối ngẫu cũng sẽ ra sức trợ giúp, khiến sự nghiệp của mệnh tạo phát triển thuận lợi.

Người phối ngẫu là con nhà gia giáo, được quan tâm chămsóc tốt.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Con cái phần nhiều đều được quý nhân đề bạt, nâng đỡ; việc học hành và sự nghiệp đều thuận lợi, dễ có thànhdanh.

Cha mẹ rất quan tâm chăm sóc gia đình, có tình cảm tốt đẹp với con cái của mệnh tạo.

Cha mẹ ở bên ngoài rất có duyên vói người chung quanh, sống hòa hợp vói mọi người, có thànhdanh.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Cha mẹ rất quan tâm chăm sóc mệnh tạo.

Mệnh tạo qua ỉại tiền bạc với bạn bè rất có uy tín, xử lí rànhmạch.

Mệnh tạo với bạn bè cũng thường tiêu xài tiền chung với nhau, đôi bên giúp đỡ lẫn nhau, tiền bạc rõ ràng, ít xảy ra chuyện phiền phức, rắc rối.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Mệnh tạo có cơ thể khỏe mạnh, ít bệnh đau; làm công việc liên quan đến văn hóa giáo dục dễ có tiếng tăm.

Cha mẹ rất có duyên với người chung quanh, giao du hòa hợp với mọi người, ít xảy ra tranh cãi, được nhiều người biết tên tuổi.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Mệnh tạo ra bên ngoài được trưởng bối quý nhân trợ lực;thành tích học tập tốt.

Cha mẹ của mệnh tạo rất có duyên với người chung quanh, giao du bạn bè phần nhiều là người hiền hòa, lễ độ, có thể giúp đỡ lẫn nhau.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Cha mẹ lúc còn trẻ rất chuyên tâm học hành và làm việc, hòa hợp với bạn học, đồng sự, đồng nghiệp; công việc thuận lợi, có thành danh.

Bạn bè của mệnh tạo phần nhiều là người lạnh nhạt với tài lợi, dùng tiền có kế hoạch rõ ràng, không lãng phí.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo được cấp trên hay trưởng bối trợ giúp, hoặc nhờ quan hệ giao tế của cha mẹ trợ lực, khiến công việc thuận lợi, không có sóng gió trắc trở, tài lợi bình ổn.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Cha mẹ rất quan tâm gia đình, giỏi chăm lo việc nhà.

Quan hệ gia đinh hai bên của vợ chồng rất tốt.

Sau kết hôn, mệnh tạo có sức khỏe tốt, tâm tình vui vẻ, ít sinhbệnh.

Cung phụ mẫu phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Tính tình cời mở, tâm trạng ổn định, ưa hưởng thụ, có thể cân đối thu chi, không lãng phí, có phúc ấm của tổ tiên.

Cha mẹ thanh nhàn, dễ chiếm cảm tình, có thị hiếu lànhmạnh.

Cha mẹ của mệnh tạo có trợ lực cho công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu.

Cung phụ mẫu tự Hóa Khoa:

Dáng vẻ hiền hòa lễ độ, thanh tú đoan trang, tâm tình bình hòa, xừ sự hòa mục thân thiết, là người an phận thủ thường; lúc đi học có thành tích tốt, dễ có thanh danh. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

(4) Cung phụ mẫu phi Hóa Kị:

Cung phụ mẫu phi Hóa KỊ nhập cung mệnh:

Mệnh tạo với cha mẹ dễ có sự ngăn cách giữa hai đời.

Mệnh tạo khó có con, hoặc ít con.

Mệnh tạo phản ứng không được nhanh nhạy, là người lương thiện, thiệt thà, dê bĩ người ta lừa gạt.

Bạn bè mượn tiền khó đòi, có trả cũng sẽ dây dưa, chia ra làm nhiều đợt.

Không nên cho người ta vay tiền để lấy lại, dễ giật.

Vận học hành không thuận lợi, thành tích kém.

Thích nghiên cứu triết học, huyền học, có khuynh hướng tiếp cận tôn giáo, tín ngưỡng.

Cung phụ mẫu phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ:

Công việc hay sự nghiệp của cha mẹ không thuận lợi, khó gánh vác khoản tiền chi dụng trong sinh hoạt gia đình.

Cha mẹ không hòa hợp với anh chị em mệnh tạo.

Anh chị em hay so đo tính toán, ưa tranh đoạt danh lợi, tình cảm với cha mẹ không tốt, thường oán trách.

Cha mẹ dễ xảy ra chuyện phiền phức, rắc rối về tiền bạc với bạn bè của họ.

Bạn bè bị áp lực về tài chính.

Cung phụ mẫu phi Hóa KỊ nhập cung phu thê:

Cha mẹ đối với anh em mệnh tạo khá nghiêm khắc, quản lí nhân viên cũng khắc khe. Công việc của cha mẹ không thuận lợi, không trợ lực cho công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo. Quan hệ giữa cha mẹ với người phối ngẫu không được tốt.

Công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo có thu nhập ít.

Cung phụ mẫu phi Hóa KỊ nhập cung tử nữ:

Con cái phần nhiều có tính bảo thủ, tham vọng không lớn, không có hoài bão, ít gặp quý nhân.

Cha mẹ thường bôn ba ở bên ngoài, dễ gặp tai ách.

Cha mẹ không ở chung với mệnh tạo.

Cung phụ mẫu phi Hóa Kị nhập cung tài bạch:

Qua lại tiền bạc với bạn bè dễ xảy ra chuyện phiền phức, rắc rối, thường sẽ bị hao tốn hoặc tổn thất; lúc bạn bè trả tiền cho mệnh tạo sẽ dây dưa kéo dài.

Cẩn thận vấn đề văn thư, hợp đồng… dễ vì lầm lẫn mà bị tổn thất; không nên làm người bảo lãnh, sẽ bị liên lụy.

Cha mẹ sức khỏe kém; không cách nào giúp đỡ mệnh tạo về tài chính.

Cung phụ mẫu phi Hóa Kị nhập cung tật ách:

Cha mẹ không được khỏe mạnh; bản thân mệnh tạo cũng nhiều bệnh, thể chất yếu, phản ứng chậm, động tác không linh hoạt.

Đừng qua lại tiền bạc với bạn bè, sẽ bị giật tiền, đã không đòi được tiền mà còn gặp phiền phức, thị phi kiện tụng.

Cung phụ mẫu phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

Cha mẹ có quan niệm hoàn toàn khác với mệnh tạo, giữa hai đời có sự ngăn cách, sau khi trường thành ít gặp nhau, tình thân nhạt nhẽo.

Bạn bè sẽ giật nợ, mệnh tạo không đòi tiền được.

Mệnh tạo tính tình chất phác, phản ứng chậm chạp, ở bên ngoài dễ bị thua thiệt, bị người ta lừa gạt.

Cung phụ mẫu phi Hóa Kị nhập cung thiên di xung cung điền trạch, là ý tượng: vợ chồng duyên bạc, kết hôn muộn.

Cung phụ mẫu phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Vận thế của cha mẹ không tốt/ cơ thể suy nhược, làm việc vất vả mà ít thành, không cách nào chu cấp đủ cho sinh hoạt gia đình, qua lại tiền bạc với bạn bè dễ bị thua thiệt, gặp nhiều khó khăn.

Tình cảm giữa cha mẹ không được hòa hợp, gần nhau ít mà xa nhau nhiều.

Cung phụ mẫu phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Vận sự nghiệp không tốt, không thích hợp đi làm hưởng

Cung phu thê phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung phu thê phi hóa

(1)       Cung phu thê phi Hóa Lộc:

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, có duyên vợ chồng với người phối ngẫu; người phối ngẫu có tình yêu sâu đậm với mệnh tạo, trợ giúp mệnh tạo về sự nghiệp, làm việc không ngại gian khổ, không oán không trách, tình cảm vợ chồng rất tốt đẹp, có thể sống với nhau đến đầu bạc; sau khi kết hôn mệnh tạo có tài vận tốt, công việc hay sự nghiệp có phát triển.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Người phối ngẫu rất hiếu thuận, có duyên với trưởng bối, có thể được đề bạt, nâng đỡ, sự nghiệp có thành tựu, có thể gánh vác sinh kế gia đình; người phối ngẫu có thể xử sự vui vẻ với anh em bạn bè của mệnh tạo; sau kết hôn, công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo sẽ phát triển thuận lợi.

Cung phu thê tự Hóa Lộc:

Người phối ngẫu có tính tình hiền hòa, có duyên với người chung quanh, duyên vợ chồng tình thâm, ân ái hạnh phúc, trông nom cho nhau, có trợ lực; sau khi kết hôn sự nghiệp của mệnh tạo khá thuận lợi, kiếm được nhiều tiền; nếu mệnh tạo tự sáng lập cơ nghiệp, người phối ngẫu sẽ giúp vốn; hôn nhân của mệnh tạo là do yêu nhau mà kết hợp. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Người phối ngẫu rất yêu thương và quan tâm chăm lo cho con cái, ra ngoài phải thù tạc nhiêu, mà tiêu xài cũng nhiều; sau kết hôn, vì công việc hay sự nghiệp, mệnh tạo cũng sẽ hưởng thụ và giao tế thù tạc nhiều; vợ lẫn chồng đều rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn giao du với bạn bè khác giới, dễ phát triển thành tình nhân ờ bên ngoài hoặc ngoại tình; người phối ngẫu đối xử vui vè với anh em bạn bè cùa mệnh tạo.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Người phối ngẫu có tài vận tốt, có tiền nhiều hơn mệnh tạo; sau kết hôn có thể nhờ người phối ngẫu trợ lực mà tăng thêm tài phú; tình cảm vợ chồng tốt đẹp, người phối ngẫu giỏi giao tế, có trợ lực cho mệnh tạo phát triển sự nghiệp; người phối ngẫu kiếm tiền thuận lợi toại ý, có khuynh hướng sáng lập cơ nghiệp, dễ kiếm tiền, thích hưởng thụ.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Người phối ngẫu tính tình lạc quan, dễ phát phì, năng lực tính dục mạnh, sẽ đeo dính mệnh tạo, nhưng không tạo áp lực cho mệnh tạo, con cái khá nhiều, cũng khá lao tâm. Mệnh tạo có hứng thú với chính giới, rất có duyên với người khác giới, dễ có cơ hội đào hoa, lình cảm vợ chồng tốt đẹp, có lòng thương người, quan tâm nhiều về sức khỏe của mình.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Người phối ngẫu có tính hướng ngoại, duyên ở bên ngoài khá tốt, đi xa vui vẻ, có nhiều quý nhân trợ giúp, thường hay viễn du. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, duyên hôn nhân đến sớm, tình cảm thuận lợi, được người phối ngẫu quan tâm, chăm lo, trợ giúp kiếm tiền, có điều kiện để hôn nhân hạnh phúc.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Người phối ngẫu xử sự với bạn bè của mệnh tạo rất tốt đẹp, tính cách hướng ngoại, nhiều bạn bè, biết giao tế, lạc quan, dễ phát phì, có duyên với trưởng bối. Mệnh tạo biết kiếm tiền, nhưng cũngdễ bị người giật liền; công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo gặp nhiêu co hội lốt, có không gian để phát triển, có thể làm ăn mua bán.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, quan tâm sự nghiệp của mệnh tạo, có trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo; người phối ngẫu nặng tinh thần sự nghiệp, có hứng thú với nhiều lãnh vực, công việc hay sự nghiệp đêu vừa ý, vùi vẻ trong công việc, làm việc bận rộn, đi làm có lương cao, thăng tiến nhanh.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Người phối ngẫu rất chăm lo cho gia đình, rất có duyên với người khác giới, nhiều bạn bè, cuộc sống vợ chồng khá hạnh phúc. Hoàn cảnh công việc hay sự nghiệp cùa mệnh tạo khá tốt đẹp, có phát triển.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Người phối ngẫu có phúc khí, được hường thụ, cuộc sống vợ chồng khá hạnh phúc, người phối ngẫu có sự nghiệp riêng của mình, còn có thể chi viện tiền bạc cho mệnh tạo.

Cung phu thê phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Người phối ngẫu có mối quan hệ tốt đẹp với cha mẹ và bậc trưởng bối của mệnh tạo, là người thông minh, biết kiếm tiền, quan tâm chăm sóc gia đình của mệnh tạo, có tiền mang về nhà.

(2)       Cung phu thê phi Hóa quyền:

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Người phối ngẫu có thế mạnh, sẽ quản thúc mệnh tạo, giữa vợ chồng dễ có tranh chấp; lúc người phối ngẫu ra bên ngoài, đều có mục tiêu rõ ràng, khá chủ động, tích cực; về sự nghiệp hay công việc đều có tác phong hành sự quả quyết, rõ ràng và mau lẹ.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Người phối ngẫu nắm quyền về sinh kế gia đình, thường cónhiều ý kiến về anh chị em của mệnh tạo, nhưng thái độ xử sự rất tốt đẹp, có thể cùng nhau bàn bạc; công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu có thể được khẳng định. Công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo cũng tiến hành thuận lợi, có dục vọng vềquyền lực, thường xảy ra tranh chấp với cấp trên.

Cung phu thê tự Hóa Quyền:

Người phối ngẫu có cá tính mạnh, tính bướng bỉnh, có năng lực, có tài năng, có thể giúp mệnh tạo sáng lập cơ nghiệp, thích can dự vào sự nghiệp của mệnh tạo. Hôn nhân của mệnh tạo là kiểu tiếng sét ái tình, mới gặp đã yêu; cũng có thể vì người nhà ép buộc hoặc lỡ có con mà phải kết hôn; vợ chồng không nhường nhịn nhau, dễ xảy ra tranh chấp, cãi vả. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Người phối ngẫu dạy dỗ con cái khá nghiêm khắc, có nhiều ý kiến và yêu cầu cao đối với gia đình, nhung cũng rất quan tâm chăm lo cho gia đình; cơ năng tính dục của người phối ngẫu rất tốt; cũng có dục vọng cao về bất động sản.

Cung phu thê phi Hóa Quyên nhập cung tài bạch:

Người phối ngẫu giỏi quản lí tài chính, nắm quyền về kinh tế, có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền; thái độ xử sự với người khác ở thế mạnh, nặng phô trương, xem trọng thể diện, chú trọng hưởng thụ, sẽ quản thúc mệnh tạo nhưng cũng chăm lo cho mệnh tạo.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Người phối ngẫu có thân thể cường tráng, làm việc chăm chỉ, cá tính mạnh, không dễ nghe lời khuyên của người khác; sẽ đeo dính mệnh tạo, nhưng cũng bắt mệnh tạo làm việc. Mệnh tạo có hứng thú với chính giới.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Người phối ngẫu ở bên ngoài thích được người ta khẳng định, ưa tranh cường hiếu thắng, ưa ra lệnh; cũng rất thích quản thúcmệnh tạo, nhất là hoạt động giao tế ở bên ngoài. Mệnh tạo thường vì đi làm việc ở bên ngoài mà phải bôn ba vất vả, thích hợp công tác ngoại vụ.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Người phối ngẫu không tùy tiện giao du bạn bè, mà có chọn lựa, rất trung thành với bạn bè; nhưng cũng có cạnh tranh, có nhiều ý kiên tranh luận với bạn bè; đối với vấn đề sinh kế gia đình thì không được vừa ý, nhưng cũng có thể gánh vác; đối với anh em bạn bè của mệnh tạo cũng có nhiều ý kiến, nhưng vẫn xừ sự tốt.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Người phối ngẫu hành sự tích cực, có húng tâm tráng chí, có trạ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo, phàm chuyện gì cũng ưa chiếm thượng phong, giữa vợ chồng thường xảy ra tranh chấp; thích sáng lập cơ nghiệp, có thể nắm quyền, tài năng và năng lực đều có thể được khẳng định.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Người phối ngẫu ờ nhà hay ra oai, nắm quyền, có sức ảnh hường, ưa ra lệnh, nghiêm khắc với con cái. Mệnh tạo có thể nhờ người phối ngẫu trợ giúp mở tiệm làm ăn, kiếm tiền mua tậu nhà cửa.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Người phối ngẫu có vận sự nghiệp tốt, cũng có thể giúp mệnh tạo phát triển, chú trọng hưởng thụ, vì thể diện có thể tiêu xài một khoản tiền lớn, nhưng cũng có năng lực quản lí tài chính rất tốt.

Cung phu thê phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Người phối ngẫu có sức ảnh hưởng trong gia đình của hai người, có nhiều ý kiến không hợp với cha mẹ của mệnh tạo, nhưng vẫn cư xử phải đạo, lại rất quan tâm chăm lo cho mệnh tạo.

(3)       Cung phu thê phi Hóa Khoa:

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Vợ chồng hai người đều có duyên với người khác giới, dễ có ngưòi thứ ba xen vào, tuy khó tránh có sóng gió, nhưng tình càm của hai người không mất, vẫn có thể sống với nhau đến đầu bạc. về sự nghiệp, người phối ngẫu có thể xoay sở vốn giúp mệnh tạo.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Người phối ngẫu đối xừ hiên hòa với anh em bạn bè; công việc hoặc sự nghiệp của người phối ngẫu đều bình ổn, có kế hoạch rõ ràng về sinh kế gia đình.

Cung phu thê tự Hóa Khoa:

Người phối ngẫu có công phu tu dưỡng, có phong độ, lịch sự nhã nhặn, tú lệ đoan trang, xem trọng hình tượng của bản thân, rất có duyên với người chung quanh, có tố chất văn nghệ, gia thế thanh bạch, thường là con nhà thư hương. Hôn nhân của mệnh tạo thường là đồng sự, đồng hương, hoặc do người khác giới thiệu; công việc cùa mệnh tạo bình yên thuận lợi, ít sóng gió trắc trở, tự sáng lập sự nghiệp có thê có thanh danh, nhưng làm gì cũng không mở rộng, chi bình ổn mà thôi; hôn nhân cùa mệnh tạo dễ có người thứ ba xen vào, mà còn bị phát hiện rất nhanh. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Người phối ngẫu dạy dỗ con cái rất sáng suốt, đúng cách, khiến cho chúng có không gian tự phát triển. Vợ chồng hai người đều rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn còn có người theo đuổi.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Người phối ngẫu xừ lí tài vụ rất có kế hoạch, tính toán rõ ràng, còn có thể trợ giúp mệnh tạo điều chuyển vốn liếng, xử sự rất có phong độ, hiền hòa, sáng suốt; vợ chồng tôn trọng nhau, hình tượng lúc nào cũng mới mẻ.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Người phối ngẫu hiền hòa, sáng suốt, có lí lẽ , tôn trọng và quân tâm chăm sóc mệnh tạo, hiếu thuận với bậc trưởng bối, đối đãi anh em bạn bè của mệnh tạo rất tốt. Mệnh tạo có hứng thú hoạt động trong chính giới

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Người phối ngẫu ra bên ngoài khá thuận lợi, gặp nhiều quý nhân, có hình tượng tốt, có tiền riêng, quan tâm chăm sóc mệnh tạo, thái độ hiền hòa, nhã nhặn.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Bạn bè của người phối ngẫu phần lớn đều sáng suốt, có lí lẽ, thái độ hiền hòa lễ độ, xử sự hòa hợp, có thể giúp đỡ lẫn nhau; về công việc hay sự nghiệp, người phối ngẫu có thể được cấp trên hay đông sự trợ lực.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, có trợ lực cho sự nghiệp công danh cùa mệnh tạo; về phương diện sự nghiệp hay công việc cùa họ, đêu có thể phát huy tài năng, được khẳng định.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Người phối ngẫu rất có duyên với người khác giới, biết trông nom lo liệu cho gia đình, sinh hoạt gia đình thư thả và thoải mái.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Người phối ngẫu có sự tu dưỡng tốt, có khí chất, có thị hiếu thanh nhã, làm việc có kế hoạch, chú trọng phẩm chất của cuộc sống, hường thụ có cân đối thu chi, công việc hay sự nghiệp đều bình ổn, có thể giúp mệnh tạo lên kế hoạch về tài chính, trợ giúp mệnh tạo trong sự nghiệp, đời sống hôn nhân hạnh phúc, có bầu không khí lãng mạn.

Cung phu thê phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Người phối ngẫu là con nhà có gia giáo, đối xử vui vẻ với cha mẹ của mệnh tạo, quan hệ rất tốt với bậc trưởng bối, có thể được cấp trên đề bạt, nâng đỡ; thích hợp làm biệc trong cơ cấu lớn như cơ cấu công hay cơ cấu giáo dục.

(4)       Cung phu thê phi Hóa Kị:

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung mệnh:

Tốt nhất là mệnh tạo nên kết hôn muộn, kết hôn sớm thường thường sẽ khó sống với nhau đến đầu bạc; nữ mệnh thường là người mẹ đơn thân, giữa vợ chồng có nhiều lời oán trách nhau. Sự nghiệp của mệnh tạo phát triển không được thuận lợi.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ:

Người phối ngẫu khó hòa hợp với anh em bạn bè của mệnh tạo, con đường giao lưu cảm thông giữa vợ chồng dễ bị đứt đoạn giữa chừng, đây là cuộc hôn nhân không được chúc phúc; sau kết hôn sinh kế gia đình dễ bị rơi vào cảnh khó khăn; trước khi kết hôn cũng gặp nhiều sóng gió trắc trở, hoặc khó có hôn nhân; sự nghiệp làm ăn không thuận lợi.

Cung phu thê tự Hóa Kị:

Người phối ngẫu có tính tình thẳng thắn , nhưng thiếu tự tin, hơi bi quan , dễ chuốc oán với tiểu nhân, thể chất yếu, nhiều bệnh đau, không trợ lực được cho công việc hay sự nghiệpcủa mệnh tạo. Mệnh tạo có duyên bạc với hôn nhân, khó tìm được đối tượng kết hôn, có khả năng sẽ không có hôn nhân, sau kết hôn dễ xảy ra tinh trạng đồng sàng dị mộng, thường vì chuyện nhỏ mà cãi vả, hôn nhân khó hạnh phúc. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung tử nữ:

Người phối ngẫu quàn tâm lo liệu cho con cái thái quá, gây áp lực lớn cho con cái, tạo ra sự ngăn cách giữa hai bên, cách xử sự không được tốt đẹp; người phối ngẫu không thích ngồi đợi ở nhà, thường ra ngoài, đi xa. Lúc đi ra ngoài mệnh tạo nên cẩn thận, dê xảy ra sự cố giao thông. Sau kết hôn gia đình không yên ổn, dễ có ngườithứ ba xen vào, có thể sẽ có hôn nhân lần thứ hai, quan hệ giao tế không được tốt.

Cung phu thê phi Hóa KỊ nhập cung tài bạch:

Mệnh tạo xừ lí vấn đề tình cảm với bạn khác giới không thỏa đáng, nên đánh mất tình yêu. Người phối ngẫu xem trọng tiền bạc, nhưng không giỏi quản lí tài chính, thường không giữ được tiền; tình càm vợ chồng không được tốt đẹp, sẽ vì tiền bạc mà cãi vả.

Cung phu thê phi Hóa KỊ nhập cung tật ách:

Người phối ngẫu cá tính thẳng thắn, thể chất yếu, hay ghen tuông, sẽ đeo dính mệnh tạo, gây áp lực lớn cho mệnh tạo, dễ đánh mất tình yêu. Mệnh tạo thiếu duyên vợ chồng, dễ có tình hình sống chung như vợ chồng mà không kết hôn chính thức, nhưng nếu có kết hôn chính thức thì khó li hôn; sinh hoạt tính giao của vợ chồng không hòa điệu; sau kết hôn sẽ ra riêng, nhưng cuộc sống dễ xảy ra sóng gió.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

Người phối ngẫu không giữ được tiền, thường bôn ba ở bên ngoài, ra ngoài dễ có tai ách; trước khi kết hôn phần nhiều người phối ngẫu đã từng có tình yêu. Mệnh tạo nên kết hôn muộn, vợ chồng duyên phận bạc, dễ bị tình trạng gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc sinh li tử biệt; nếu phối ngẫu ỉà người xứ khác hoặc lớn hơn trên bảy tuổi, thì có thể sống với nhau lâu dài. Hôn nhân khó hạnh phúc, trước khi kết hôn tuy có đào hoa, nhưng cũng khó kết hôn.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Người phối ngẫu có thể chất kém, khó mập; ít bạn bè, đối với bạn bè rất trọng tình nghĩa, nhưng thường gặp thị phi phiền phức, nếu có qua lại tiền bạc thì dễ bị thua thiệt. Sau kết hôn sinh kế gia đình dễ bị khủng hoảng, tiền giành dụm cũng dễ bị ,bạn bè giật; sự nghiệp gặp sóng gió, phát triển không thuận lợi.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Người phối ngẫu có tính hướng ngoại, thường bôn ba ở bên ngoài, không trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo. Mệnh tạo sẽ sổng với người phối ngẫu đến già, và cũng cãi nhau đến già. Người phối ngẫu dốc toàn bộ tinh thần vào công việc, có tính chuyên nghiện, nhưng công việc hay sự nghiệp không ổn định, thường có tình trạng bò dở nửa chừng. Lúc ra ngoài mệnh tạo nên cẩn thận, phòng sự cố giao thông; nên kết hôn muộn.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung điên trạch:

Mệnh tạo thường kết hôn muộn, muộn thì có con trai. Người phối ngẫu tuy chăm lo cho gia đình, nhưng thường bôn ba ở bên ngoài. Tình cảm vợ chồng không được hòa hợp, hôn nhân dễ có người thứ ba xen vào, nhưng dù có tình nhân ở bên ngoài vẫn khó li hôn; mệnh tạo ra ngoài phải cẩn thận phòng sự cố giao thông.

Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung phúc đức:

Tâm thần của người phối ngẫu không được yên ổn, hay đâm đầu vào những chuyện không giải quyết được, tư tưởng dễ bị xung động, đời sống hôn nhân của hai người khồng được hạnh phúc, vợ chồng dễ vì tiền bạc mà cãi vả; người phối ngẫu không giữ được tiền, thường vì tâm trạng không tốt mà tiêu tiền để giải khuây.

Cung phu thê phi Hóa KỊ nhập cung phụ mẫu:

Người phối ngẫu có gia thế không tốt, thể chất yếu, xử sự không hòa hợp với cha mẹ của mệnh tạo. Vợ chồng duyên bạc, gần nhau ít mà xa nhau nhiều, dễ xảy ra tình trạng li hôn. Công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu không thuận lợi, khó được đề bạt, nâng đỡ; sau kết hôn sự nghiệp thường xuống dốc.

Cung tử nữ phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung tử nữ phi hóa

(1)       Cung tử nữ phi Hóa Lộc:

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Đào hoa nhiều, có duyên với người khác giới, nhiệt tình, có tinh thần đào hoa, ưa phong hoa tuyết nguyệt; nhất định có con, quan hệ đối đãi giữa mệnh tạo với con cái rất tốt, tình cảm thân mật;hợp tác thì sinh tài. Nếu cung mệnh chuyển phi Hóa KỊ quay lại nhập cung tử nữ, là ý tượng: con cái khá ít, không phải tượng đào hoa. Nếu đồng thời cung tử nữ phi Hóa KỊ nhập cung điền trạch, là ý tượng: phần nhiều là quan hệ ờ chung như vợ chồng, hơn nữa còn không muốn sinh con. Nếu đồng thời cung từ nữ phi Hóa KỊ nhập cung phúc đức, là ý tượng: vợ chồng thường cãi vã nhau.

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Con cái có duyên với người chung quanh, nhiệt tình với mọi người, tình cảm giữa anh chị em rất tốt, xem trọng hường thụ, hơi lười biếng, kiếm tiền dễ, thích làm việc bằng đầu óc. Muốn kiếm tiền phái thù tạc trước, thích hường lạc, đào hoa nhiều, có thể theo ngành giải trí. chuộng hư vinh, tâm thần bất định, thiên tính phong lưu tao nhã, nữ mệnh dễ luân lạc chốn phong trần. Nếu đồng thời cung tố nữ phi Hóa Kị nhập cung quan lộc, nữ mệnh chủ về làm nhị phòng; nam mệnh chủ về lấy vợ là phụ nữ đã li hôn hoặc đã từng có chồng; mệnh tạo có tình nhân ở bên ngoài, nặng quan hệ tình dục.

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Con cái rất có duyên với người khác giới, trưởng thành sớm, quan hệ với cha me rất tốt đẹp, hiếu thuận, sự nghiệp thuận lợi, có tiền để hưởng thụ; nhưng thể chất yếu, cần lưu ý thói quen ăn uống của chúng. Sau kết hôn, mệnh tạo vẫn rất có duyên với người khác giới, mệnh tạo dễ có tình nhân ở bên ngoài, sống chung như vợ chồng với người khác bên ngoài, hoặc vợ chồng mệnh tạo không có danh phận chính thức. Cũng có người theo đuổi, dụ dỗ người phối ngẫu. Nếu sinh con gái đầu lòng, chú ý sức khỏe con cái; người phối ngẫu xinh đẹp (hay anh tuấn). Nếu cung từ nữ phi Hóa Kị nhập cung; mệnh, là ý tượng: kết hôn muộn, khó kết hôn, trước khi kết hôn phần nhiều đã có ở chung như vợ chồng với người khác. Nếu cung từ nữ phi Hóa Kị nhập cung tật ách, là ý tượng: quan hệ ở chung như vợ chồng khá tốt đẹp mà không cần danh phận; nữ mệnh là người phong trần, hoặc làm nhị phòng; nam mệnh là người phong lưu, tình cảm bừa bãi. Nếu cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung nô bộc, là ý tượng: vợ chồng thường cãi vã.

Cung tử nữ tự Hóa Lộc:

Con cái thông minh lanh lợi, hiếu thảo; con cái có duyên phận rất sâu với mệnh tạo. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, dễ có đào hoa, giao du thân mật với bạn bè khác giới, dễ có hành vi vượt quá tình bạn, có thể kết hôn hơi sớm; cơ năng tính dục của mệnh tạo rất tốt; cần phải lưu ý, sinh con gái đầu dễ bị lưu sản. Mệnh tạo có quan hệ giao tế rất tốt, giao du nhiều; có nhiều cơ hội hợp tác sự nghiệp với người khác. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Con cái rất thương tiền, thích hưởng thụ, khả năng giao tế rất tốt, có nhiều cơ hội sáng lập cơ nghiệp, kiếm tiền dễ dàng, vận tiền tài vừa ý. Mệnh tạo rất có duyên với người chung quanh, nên hợp tác, có thê kiếm tiền, tài phú cùa mệnh tạo hơn anh em; có tính lấy “cái tôi” làm trung tâm; thích hợp làm thầy giáo, cũng có thể theo ngành giải trí; về già con cái sẽ phụng dưỡng. Nếu mệnh tạo có tình nhân ở bên ngoài sẽ phải tiêu xài nhiều tiền; có thể đây là đào hoa theo kiểu mua bằng tiền. Nếu đồng thời cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung thiên di, thì không nên hợp tác. Nếu đồng thời cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ, là ý tượng: vợ chồng thường hay oán trách nhau.

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Con cái tính tình lạc quan, dễ phát phì, thê chất yếu nhưng đầu óc lại mạnh, rất có duyên với người chung quanh, hiếu thuận, dễ được bậc trưởng bối hay cấp trên yêu mến, sự nghiệp dễ có phát triển. Mệnh tạo trưởng thành khá sớm, cơ năng tính dục rất tốt, cơ thể cường tráng, đào hoa bám vào người đối tượng phần nhiều là người đã kết hôn; thích hợp mở tiệm buôn bán, không nhất định phải hợp tác. Nếu cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung mệnh, là ý tượng: trưởng thành sớm, nhiều dục tình, trước khi kết hôn phần nhiều đã có quan hệ ở chung như vợ chồng, dễ có hai ỉần phối ngâu; cơ thể khỏe mạnh, xuất ngoại vất vả; nam mệnh chủ về có nhị phòng, nữ mệnh chù về có hai lần hôn nhân.

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Con cái có tính lười biếng, hướng ngoại, thích đi đó đi đây, ra ngoài cát lợi, rất có duyên với người chung quanh, gặp nhiều quý nhân, thường có cơ hội viễn du, phần nhiều sẽ đi xa kiếm tiền. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, nếu có đào hoa thì thuộc loại hường thụ tinh thần, ưa phong hoa tuyết nguyệt; người phối ngẫu đối xừ tốt với mệnh tạo. Mệnh tạo không có tổ nghiệp, là mệnh cách tự lập. Nếu đồng thời cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung quan lộc, là ý tượng: vì có đào hoa ờ bên ngoài mà li hôn. Nếu đồng thời cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung điền trạch, là ý tượng: có quan hệ ở chung như vợ chồng, nhưng không muốn sinh con.

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Con cái có tính hướng ngoại, rất dễ thân thiện với người khác, có nhiều bạn bè, đối đãi bạn bè rất tốt, nhưng cũng dễ bị người ta giật tiền, giật nợ; rất thích hợp làm công việc quan hệ công cộng, ngoại giao, cũng thích hợp buôn bán bách hóa, nghệ thuật biểu diễn. Mệnh tạo là người thích vui chơi giải trí, thích hường lạc, muốn kiếm tiền phải thù tạc trước, có thể làm việc trong ngành giải trí; nhiều đào hoa, rất có duyên với người khác giới, nếu có đào hoa, tình nhân ở bên ngoài, đối tượng phần lớn là người chưa kết hôn, mà còn chú trọng quan hệ tính giao. Nữ mệnh dễ thành người phong trần hoặc lấy đào hoa làm nghề nghiệp. Nếu đồngthời cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung điền trạch, là ý tượng: gặp dịp thì vui chơi đào hoa, do đó vợ chồng hay cãi vã; có hành vi luyến ái với đối tượng chưa kết hôn, tình nhân ở bên ngoài của mệnh tạo nặng quan hệ tính dục.

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Con cái thông minh, xem trọng sự nghiệp, lúc còn đi học có thành tích khá tốt, lúc đi làm việc cũng có nhiều cơ hội, vừa ý, lương cao, thăng tiến nhanh, cũng có thể tay trắng làm nên, tự lập cơ nghiệp, nhưng cũng thường hay thay đổi việc làm, có thể thành tựu; có thể kiếm được tiền liên quan đến đào hoa (như tổ chức du lịch, quán cà phê, v.v…; thích hợp hợp tác làm ăn; nhưng sức khỏe kém, cần chú ý thói quen ăn uống không đúng cách. Bên ngoài có thể có quan hệ ở chung như vợ chồng, hoặc là vợ chồng không có danh phận chính thức, nhưng đối xừ tốt với người phối ngẫu; chú ý sức khỏe cùa con cái; Nếu đồng thời cung tú nữ tự Hóa KỊ thì vợ chồng hay cãi vã, nhưng, không li hôn. Nếu đồngthời cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung thiên di, là ý tượng: vợ chồng không hợp nhau, trước khi kết hôn đã ở chung như vợ chồng với người khác; cũng chủ về không nên hợp tóc.

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Con cái sẽ lo cho gia đình, sinh hoạt gia đình vui vẻ, xem trong; tiền bạc, sẽ dành dụm tiền vì gia đình, mua bất động sản. Mệnh tạo thích hợp công việc liên quan đến bất động sản, nên hợp tác hoặc đi xa làm ăn; sau khi có con, gia vận sẽ tốt hơn; mệnh tạo trướng thành sớm, có duyên với người khác giới, xem chú trọng sinh hoạt tính giao hơn tiền bạc; nhiều đào hoa, đối xừ tốt với người phối ngẫu. Nếu đồng thời cung tử nữ phi Hóa KỊ nhập cung phu thê, là ý tượng: có nhiều quan hệ ờ chung như vợ chồng ở bên ngoài, hơn nữa phần nhiều đối tượng là những người đã có gia đình; thường xuất ngoại đi công tác, hoặc hợp tác làm ăn.

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Con cái có phúc khí để hưởng, độ lượng, xem trọng hưởng thụ, thích động não, không thích lao động chân tay, kiếm tiền khá dễ. Nếu mệnh tạo hợp tác có thể kiếm được tiền; rất có uyên với người khác giới, dễ có tình nhân ở bên ngoài, thường tiêu xài tiền vào chuyện hưởng thụ đào hoa. Nếu chuyển phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu, nữ mệnh có thể bán thân để kiếm tiền, sinh hoạt tính dục quá độ khiến cơ thể cũng không được khỏe.

Cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Con cái hiếu thuận, quan hệ tốt với bậc trường bối, cấp trên, có thể được họ yếu quý, quan tâm; lúc còn đi học có thành tích tốt; là cách cục làm doanh nhân, nhân vật thuộc cấp chủ quản. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, ở bên ngoài giao du nhiều bạn bè khác giới. Thích hợp mở tiệm làm, làm mậu dịch, cũng có thể hợp tác nhưng phải cẩn thận. Nếu đồng thời cung tử nữ phi Hóa KỊ nhập cung điền trạch, là ý tượng: cha mẹ đa tài; mệnh tạo ở bên ngoài có

nhiều đào hoa, có duyên với người khác giới; nữ mệnh phần nhiều làm nhị phòng, nam mệnh phần nhiều có đối tượng đào hoa là người đã từng có gia đình.

(2)       Cung tử nữ phi Hóa Quyền:

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Con cái thông minh, có tài năng, lí tưởng cao xa, yêu cầu cao ờ bản thân, tư tưởng dễ cực đoan, thích nắm quyền, cố chấp, ưa ra oai, xem trọng sự nghiệp, có tinh thần trách nhiệm, sẽ có thành tựu, nhưng cũng dễ chuốc thị phi. Mệnh tạo có nhiều đào hoa, thường dẫn đến tình trạng rắc rối, khó xử về tình cảm; nữ mệnh dễ bị khinh bạc, dễ bị cưỡng bức, buổi tối ra ngoài phải cẩn thận.

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Con cái thường có thái độ ra oai, phách tôi với bạn bè, xã giao kém, phạm vi quen biết qua lại rất hẹp, cũng ưa can thiệp vào chuyện của anh chị em, anh em thường xảy ra tranh cãi, nhưng tình cảm anh em không bị ảnh hường; thích hợp với sinh nhai bằng nghệ thuật biểu diễn hoặc công việc có tính chất tiếp xúc nhiều với quần chúng, ở nơi đông đúc, náo nhiệt. Công tác hoặc công việc làm ăn của mệnh tạo cần phải thù tạc nhiều, kiếm được tiền; cũng có thể hợp tác với người khác, lúc hợp tác có thể nắm quyền. Nếu mệnh tạo có đào hoa, dễ phát triển thành quan hệ thân mật nhục thể.

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung phu thê:

Con cái cá tính cương cường, cố chấp, ưa tranh luận, không dễ tiếp nhận ý kiến của người khác, hơi khó dạy nhưng hiếu thảo, cần lưu ý sức khỏe và cơ thể của chúng, dễ bị ngoại thương, cũng dễ bị bệnh đau eo lung. Mệnh tạo có tình yêu theo kiểu sét đánh, mới gặp đã yêu, kết hôn chớp nhoáng; sau kết hôn, sẽ có người thứ ba xen vào hôn nhân của hai người, xảy ra nhiều thị phi rắc rối, có người quyến rũ hay dụ dỗ người phối ngẫu; nam mệnh cũng muốn có nhị phòng; mệnh tạo có thể tự sáng lập cơ nghiệp, nếu đi làm hưởng lương sẽ thăng tiến dễ dàng; làm cổ đông, hoặc hợp tác vói người sẽ dễ xảy ra tranh chấp.

Cung tử nữ tự Hóa Quyền:

Mệnh tạo nhất định sẽ có con, nhưng có hiện tượng khó sinh hoặc phải sinh mổ, con cái cá tính cương cường, hiếu động, khó dạy, dễ bị ngoại thương, phản ứng mẫn tiệp, có tài năng, ưa tranh cường hiếu thắng, thường không giữ được bình tĩnh, dễ xung động, nhưng thiếu nghị lực. Lúc mệnh tạo giao du với người khác giới, hoặc có tình nhân ờ bên ngoài, có đào hoa, muốn chia tay thường sẽ có phiền phức, rắc rối. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Con cái giao du với người khác sẽ có tác phong của kẻ mạnh. Mệnh tạo lấy cái tôi làm trung tâm, nhưng anh em kiếm tiền nhiều hơn; mệnh tạo có năng lực kinh doanh tài chính rất tốt, thích vận dụng tiền bạc một cách linh hoạt, không thích gởi tiết kiệm để kiếm lời, ưa đầu tư sáng lập cơ nghiệp, cũng thích đầu cơ; nếu đi làm hường lương, cũng có thể nắm quyền về tài vụ; nên hợp tác với người khác, vừa ra vốn vừa ra sức lực; nếu mệnh tạo hợp tác làm ăn với người khác, thường sẽ nắm về kĩ thuật và ra vốn nhiều hơn, không ngừng mở rộng đầu tư.

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Con cái có cá tính mạnh, nghịch ngợm hiếu động, không chịu nghe lời khuyên của người khác, có chủ kiến, hay chống đối bậc trường bối, có thể lực tốt, dễ xảy ra sự cố té ngã bị thương. Mệnh tạo trưởng thành sớm, rất có duyên với người khác giới, có nhu cầu tính dục nhiều, dễ bị người ta qụyến rũ hay dụ dỗ quan hệ tính giao. Mệnh tạo thích hợp mở tiệm, buôn bán làm ăn, không nhất định phải hợp tác. Nếu đồng thời cung tử nữ tự Hóa KỊ, cơ thể của con cái dễ bị thương hổn, khó dạy; nữ mệnh dễ bị cưỡng bức, trưởng thành sớm, tính dục mạnh, dễ có hiện tượng khó sinh hoặc dùng phẫu thuật.

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Con cái ra ngoài ưa biểu hiện “cái tôi”, thích cạnh tranh với người khác, cũng thích làm nhân vật lãnh đạo, được người ta kính trọng; có lúc vì quá bành trướng “bản ngã” mà chuốc thị phi; con cái cũng hay có ý kiến với mệnh tạo, nhưng vẫn hiếu thảo. Mệnh tạo bôn ba ở bên ngoài, gặp nhiều cạnh tranh, trải gió dầm sương, cũng thường phải dời chuyển chỗ ở; thích hợp với công việc ngoại vụ.

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Con cái đối đãi với người khác sẽ ở thế mạnh, tích cực, thích cạnh tranh với người khác, cũng ưa lãnh đạo người khác, giao du bạn bè có chọn lựa, thích bạn bè có năng lực, ở tầng lớp cao, có thể nâng địa vị của mình lên, đối với bạn bè rất trung thành, thích kiếm tiền, có tiền sẽ sáng lập cơ nghiệp mà không tính đến hậu quả, thích hợp với những nghề nghiệp ở nơi đông đúc, náo nhiệt, ví dụ cửa hàng bách hóa, khu resort, khu vui chơi giải trí, nghệ thuật biểu diễn… Nếu mệnh tạo làm ăn, muốn kiếm tiền thường phải giao tế thù tạc; cơ năng tính dục khá mạnh, đòi hỏi nhiều chuyện tính giao, khá chủ động.

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Con cái ưa cạnh tranh, không chịu thua, phản ứng lanh lẹ, có năng lực, học giỏi, làm việc tích cực và có nỗ lực, yêu cầu cao ở bản thân, đi làm dễ thăng tiến, cũng có thể làm chủ sáng lập cơ nghiệp. Mệnh tạo nên chú ý sức khỏe con cái; thích vui chơi đào hoa ở bên ngoài, không mang về nhà; nhân viên của mệnh tạo phần nhiều là người có tài; mệnh tạo cũng có thể hợp tác làm ăn, thuê người làm, sự nghiệp sẽ thành tựu.

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Con cái ở nhà ưa phách lối, hiếu động; sẽ có quyền thế, tương lai cũng sẽ mua tậu được bất động sản, cũng có thể kinh doanh làm ăn liên quan đến bất động sán. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, nếu có đào hoa sẽ khá chủ động; mệnh tạo đối xử tốt với người phối ngẫu, nhưng bị áp lực. Mệnh tạo ra ngoài nỗ lực làm việc, được khẳng định; nếu hợp tác làm ăn, sẽ gặp cạnh tranh nhưng có thành quả; có thể xuất ngoại tung hoành.

Cung tử nữ phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Con cái có tài quản lí tài chính, biết kiếm tiền, ưa sự nghiệp đầu cơ, có sở học chuyên sâu; xem trọng hưởng thụ, khá phô trương,tiêu tiền rộng rãi. Sau kết hôn đòi hỏi nhiều ở người phối ngẫu về chuyện tính giao, dễ xung động tính dục, nên phòng quá độ sẽ tạo thành áp lực nơi người phối ngẫu; có con nam ít nữ nhiều. Mệnh tạo có thể hợp tác làm ăn với người khác để kiếm tiền. Nếu đồng thời cung từ nữ phi Hóa KỊ nhập cung phụ mẫu, nữ mệnh có thể bán thân để kiếm tiền, sinh hoạt tính dục quá độ, sức khỏe không tốt.

Cung tử nữ phi Hóa Quyên nhập cung phụ mẫu:

Con cái hiếu động, thường ra ngoài; có thể chất kém, cơ thể dễ bị ngoại thương, ư cãi lí, thường có ý kiến không hợp với cha mẹ vàbậctrưởng bối, nhưng vẫn hiếu thảo với cha mẹ, được bậc trưởng bối khẳng định; rất nỗ lực học hành thi cử, có thành tích tốt. Mệnh tạo dễ xung động tính dục; nếu hợp tác làm ăn với người khác, sẽ khá vất vả, chịu áp lực, nhưng có thể phát triển.

(3)       Cung tử nữ phi Hóa Khoa:

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Con cái đối xử vui vẻ với nhau, có lí tính, hòa hợp, ít xảy ra tranh chấp; con cái có thái độ tốt, dễ dạy. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, lúc giao du với bạn bè khác giới rất chú trọng tình càm, thường là do giới thiệu mà đến; mệnh tạo là người phong nhã, có phong độ; hợp tác làm ăn có thể kiếm tiền, không nhiều nhưng đều đặn.

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Mệnh tạo có thể hợp tác làm ăn, tài chính bình ổn; công việc làm ăn thường dựa vào thương hiệu hoặc nhờ người ta giới thiệu, giúp đỡ, kiếm được tiền mà không cần phải giao tế thù tạc; đào hoa có hiện tượng thương yêu, chăm sóc sức khỏe cho mệnh tạo. Anh em phong lưu, rất có duyên với người khác giới. Con cái đối xừ vui vẻ, hiền hòa với anh em bạn bè của mệnh tạo, dùng tiền có kế hoạch, không lãng phí.

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Con cái với người phối ngẫu của mệnh tạo có tình cảm rất tốt, không có sự ngăn cách giữa hai đời, công việc hay sự nghiệp của chúng bình ổn, hôn nhân thường là do người khác giới thiệu mà thành. Người phối ngẫu cùa mệnh tạo rất có duyên với người khác. Sau kết hôn vẫn giao du với bạn bè khác giới. Mệnh tạo sau khi có con, công việc hay sự nghiệp đều thuận lợi hơn; cần chú ý sức khỏe của con cái; nam mệnh muốn có nhị phòng, có đào hoa phong tình.

Cung tử nữ tự Hóa Khoa:

Con cái thanh tú, thông minh, rất có duyên với người chung quanh, có phong độ, hiền hòn lễ độ, có khí chất, có tài văn nghệ. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, lúc giao du với bạn bè khác giới, rất ôn hòa, vui vẻ, chú trọng lễ nghĩa; nếu có đào hoa sẽ giao du thiên về phương diện tinh thần, nhung cũng sẽ gây ra phiền phức, rắc rối; tính hơi chuộng hư vinh, thích được người khác khen ngợi; nếu có hợp tác làm ăn cũng không lớn lắm. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Con cái dùng tiền có kế hoạch cân đối thu chi, tính toán rõ ràng, thu nhập ổn định, thường thường thuộc nhóm người đi làm hưởng lương, có thái độ hiền hòa với mọi người. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, sẽ giao du với nhiều bạn bè khác giới, nhưng thiên về phương diện tinh thần, đào hoa chi ở cái miệng; mệnh tạo nên hợp tác với người khác, mờ tiệm làm ăn sẽ hưng vượng.

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Con cái có thể chất tốt, ít khi mắc bệnh nặng, có bệnh cũng dễ chữa. Mệnh tạo ra ngoài, thân tâm vui vẻ; nếu gặp cảnh khó khăn, có thể được quý nhân tương trợ; xuất ngoại có quý nhân trợ giúp, gặp tai ách được cứu; giao du với người khác giới khá chú trọng cảm giác, thích lãng mạn; nặng duyên với người khác giới; mờ tiệm, làm ăn buôn bán, không nhất định phải hợp tác, sẽ không đầu tư lớn, tuy không kiếm được nhiều tiền, nhưng rất bình ổn.

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Con cái ra ngoài cát lợi, gặp nhiêu quý nhân, có thanh danh. Mệnh tạo ra ngoài cũng gặp nhiều quý nhân, hiếm khi gặp tai ách, gặp tai ách thì được cứu; nhân viên cùa mệnh tạo phần lớn đều giúp mệnh tạo; hợp tác làm ăn ờ bên ngoài rất có tiếng tăm; mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, có đào hoa ở bên ngoài.

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Con cái giao du hiền hòa với bạn bè, bạn bè không nhiều, nhưng có trợ lực, phần nhiều đều là người lễ độ. Mệnh tạo sống với người phối ngẫu chú trọng bầu không khí tao nhã đầm ấm; hai người đều có duyên với người khác giới; có thể họp tác, nhờ bạn bè trợ lực mà kiếm được tiền, mà không cần tốn tiền giao tế thù tạc.

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Con cái ưa yên tĩnh, văn nhã, hiếu học, có tài, thành tích ở trường rẩt tốt; lớn lên dễ có tiếng tăm; chuyên tâm làm việc, xử sự hòa hợp với bạn học, đồng sự, đồng nghiệp; dễ được cấp trên trọng dụng, có thể làm việc trong lãnh vực văn hóa, giáo dục, hoặc nghề nghiệp có tính phục vụ. Mệnh tạo có thể hợp tác làm ăn, kinh doanh thuận lợi, nhưng không làm lớn; sau kết hôn ở bên ngoài vẫn rất có duyên với người khác giới; là đào hoa ở bên ngoài, không mang về nhà.

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Môn phong gia giáo tốt đẹp, con cái hiền hòa, lễ độ, có thể lo cho gia đình, cuộc sống gia đình vui vẻ. Mệnh tạo ở bên ngoài luôn nghĩ về gia đình, đối xừ tốt với người phối ngẫu; rất có duyên với người khác giới, hợp tác làm ăn kinh doanh khá bình ổn, dễ có thanh danh; nếu gặp khó khăn trắc trở, có thể ứng phó hợp cách, hoặc được gia đinh giúp sức chống đỡ, giải trừ nguy cơ.

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Con cái có tâm tình cởi mở, tư duy ổn định, có công phu tu dưỡng về vẫn nghệ, có thị hiếu thanh nhã, giỏi quản lí tài chính, lập kế hoạch, làm ăn khó có chuyện thua lỗ lớn, giỏi tích lũy. Người phối ngẫu giỏi quản lí gia đình. Mệnh tạo có thể hợp tác để tạo dựng sựnghiệp, có kế hoạch chu đáo, vận kinh doanh bình thuận; sau kết hôn mệnh tạo có thể sẽ có hồng nhan tri kỉ, bạn tinh thần.

Cung tử nữ phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Gia đình vui vẻ, con cái hiếu thuận, dễ được bậc trưởng bối hoặc cấp trên đề bạt, nâng đỡ; vận thi cử không tệ, học hành hay đi làm đều có thành tích tốt, nên làm việc trong cơ cấu lớn, hoặc cơ cấu công, cơ cấu văn hóa giáo dục; nếu có đào hoa sẽ chú trọng bầu không khí tao nhã, phần nhiều giao du thiên về tinh thần hoặc có nhiều ảo tường. Mệnh tạo thu nhập ổn định.

(4)       Cung tử nữ phi Hóa KỊ:

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung mệnh:

Có con cháu nhưng không nhiều, dễ có sự ngăn cách giữa hai đời nhưng con cái hiếu thuận, con cái có tính tiết kiệm, ỷ lại khá nặng, thiếu tự tin. Mệnh tạo thường bôn ba vất vả ở bên ngoài, nhưng không thuận lợi, dễ có tai kiếp; nếu hợp tác làm ăn, vận kinh doanh không được tốt; mệnh tạo dùng tiền lãng phí, công ti dễ phá sàn, sập tiệm; có kiếp số hợp tác không thuận lợi; một đời nhiều đào hoa, thuộc loại bị động, có bất hòa, tranh chấp, phiền phức, rắc rối trong vận đào hoa, duyên khởi duyên diệt, phần nhiều có hai lần hôn nhân hoặc ở rể; nữ mệnh dễ bị dụ dỗ; có hiện tượng kết hôn muộn, khó kết hôn, ờ chung như vợ chồng mà không có danh phận.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ:

Con cái phần nhiều đều có thái độ không tốt với anh em bạn bè, không có bạn bè tri kỉ, dễ có tranh chấp với người khác, qua lại tiền bạc càng dễ xảy ra chuyện không hay.

Mệnh tạo trước 40 tuổi không nên hợp tác với người khác, tài chính dễ bị tổn thất; có tượng ra nước ngoài định cư, thường đi nước ngoài; giữa vợ chồng, sinh hoạt tính giao không hòa điệu; mệnh tạo có tính chuộng hư vinh, phong lưu tao nhã, thường ở bên ngoài ăn uống vui chơi hưởng thụ; nếu có đào hoa phần nhiều là đào hoa phải tốn tiền, đối tượng thường là người trẻ tuổi, chưa kết hôn, dễ hư thai.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung phu thê:

Vợ chồng mệnh tạo vì nguyên nhân sinh lí hoặc tâm lí mà không sinh con, cũng có hiện tượng có sinh nhung khó dưỡng. Con cái có tính ỷ lại, lúc nhỏ đeo dính cha mẹ, sự nghiệp phát triển không thuận lợi, thành tích học tập không được tốt, tình cảm không thuận lợi, nên kết hôn muộn. Mệnh tạo sau kết hôn, dễ có đào hoa phiền phức, dễ có hai lần hôn nhân; bản thân có tình nhân ở bên ngoài, nhưng cuối cùng chẳng có kết quả; đối tượng đào hoa thường đã kết hôn, đối tượng giao du ở tầng lớp không cao; khó kết hôn; bên ngoài có quan hệ ở chung như vợ chồng, hoặc vợ chồng không có danh phận chính thức; không thể hợp tác. Nam mệnh thường có quan hệ đào hoa với phụ nữ đã có chồng hoặc đồng sự; con cái khó nuôi. Nếu cung phu thê chuyển phi Hóa KỊ nhập cung tử nữ, đối tượng làm nhị phòng là người đã kết hôn; sinh hoạt tính dục không hòa hợp. Mệnh tạo không nên hợp tác làm ăn, sẽ có nguy cơ.

Cung tử nữ tự Hóa Kị:

Ít con cái, con cái khó nuôi dưỡng, sinh đẻ không được thuận lợi, dễ bị lưu sản, hoặc phải sinh mổ; tâm trạng của con cái không ổn định, thiếu tự tin, tính thẳng thắn nên lời nói dễ làm người khác bị tổn thương, nhưng có tính thương người, cũng quan tâm lo lắng cho người khác. Mệnh tạo ít có đào hoa, hơi khó kết hôn, cũng khó có người yêu; nếu giao du với người khác giới thường sẽ bị phá tài; cuộc sống gia đình không được yên ổn; sau kết hôn nếu có tình nhân ờ bên ngoài, thường không lâu, không giữ được, mà còn bị phá tài, gặp phiền phức, rắc rối. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung tài bạch:

Con cái ít bạn bè, không giỏi giao lưu với người khác, tính thẳng thắn, nói không lựa lời nên dễ gây ra tranh cãi, ít bạn bè, tình cảm không thuận lợi, mà thường theo đuổi tiền bạc, vì tiền mà bôn ba, ít hưởng phước, tâm thần không yên ổn. Con cái sẽ phụng dưỡng mệnh tạo. Mệnh tạo không nên hợp tác làm ăn với người khác, kiếm không được tiền, dễ bị phá sản, sập tiệm; đầu tư lỗ vốn mà còn gặp chuyện không vui, phạm tai ách tiểu nhân, tổn tài, hao tài vì bạn bè; thường có quan hệ đào hoa trao đổi bằng tiền bạc; nữ mệnh dễ làm

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung tật ách:

Con cái có thể chất yếu, tình cảm bạc bẽo, dễ tâm trạng hóa, số khá vất vả; dễ có ý kiến không hợp với cấp trên, khó được đề bạt, nâng đỡ, vận thi cử kém; con cái bất hiếu; dịch mã, lang bạt tha hương, không nên hợp tác, có tượng bị giảm bớt, tổn thất. Vợ chồng mệnh tạo sinh hoạt tính giao không hòa điệu; đào hoa đeo theo người, tính dục mạnh; nếu mệnh tạo có đào hoa, sẽ thiên nặng nhục dục, đối tượng thường là quả phụ hay phụ nữ lớn tuổi; nữ mệnh dễ bị khinh bạc, dễ ngoại tình, li hôn. Mệnh tạo di truyền bệnh tật cho con cái; không con trai, có cũng khó nuôi; nếu có hợp tác làm ăn, sẽ khá vất vả, dễ gặp phiền phức, rắc rối, thậm chí là phạm quan phi, do đó mà gây ra tổn thất; thường có dịch mã viễn du tha hương. Nếu cung tật ách chuyển phi Hóa Kị quay lại nhập cung tử nữ, là ý tượng: nghèo đói, đối tượng là người đã kết hôn hoặc lớn tuổi. Nếu cung tật ách chuyển phi Hóa Kị nhập cung tài bạch, là ý tượng: dùng tiền mua đào hoa, hoặc kiếm được tiền liên quan đến ngành giải trí. Nếu cung tật ách chuyển phi Hóa Kị nhập cung nô bộc, là ý tượng: có đào hoa, đối tượng là người chưa kết hôn.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

Con cái nên rời gia đình sớm, ra ở riêng, phần nhiều không có con trai, có cũng khó nuôi, hoặc có con trai cũng như không, vì lớn lên sẽ đi xa, ít gặp mệnh tạo. Mệnh tạo không có đào hoa (bản tính không thích), không nên hùn hạp trong sự nghiệp; không được “chơi hụi”, cũng không nên làm người bảo đảm, nếu không sẽ có tổn thất lớn; thường bôn ba các nơi, rất ít khi định cư một chỗ, phải thuê nhà ở. Nếu đồng thời cung tử nữ phi Hóa Lộc nhập tam phương của cung tử nữ, là ý tượng: không có duyên với con trai. Nếu cung phu thê tự Hóa Kị, là ý tượng: sinh con gái nhiều hơn. Nếu cung mệnh hoặc cung thiên di cũng tự Hóa KỊ, là dễ hư thai, có con gái nhiều hơn; mệnh tạo có tượng dịch mã, ra nước ngoài, nên phòng sự cố giao thông.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung thiên di xung cung mệnh, là ý tượng: không nên hợp tác với bạn bè, sẽ bất lợi đối với mệnh tạo.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Có con cái, con cái có thể tự kiếm tiền để tiêu xài, giữa con cái với nhau thường có chuyện không hợp nhau; con cái ít có bạn bè, có cũng không lâu dài, rất quan tâm lo lắng cho bạn bè, nhưng bạn bè lại không trợ lực, nếu qua lại tiền bạc với bạn bè, sẽ bị tổn thất; con cái không thích anh em bạn bè của mệnh tạo, cũng không hòa hợp với thành viên trong gia đình. Mệnh tạo thường tụ họp bạn bè ăn uống vui chơi, hưởng lạc đào hoa. Có tượng ra nước ngoài định cư, hoặc thường đi nước ngoài; thuộc về đào hoa ăn chơi, đối tượng là người trẻ tuổi; không thể hợp tác, muốn hợp tác phải sau 40 tuổi (giống như trường hợp cung từ nữ phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ).

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Con cái không thích học Hành, thành tích kém, thường thường không nắm được mấu chốt sự việc, thích hợp đi làm hưởng lương. Mệnh tạo không nên hợp tác làm ăn, làm việc vất vả mà còn dễ bị phá sản; mệnh tạo có bệnh kín về chức năng tính dục, sinh hoạt tính giao khó thỏa mãn; khó kết hôn; nếu có đào hoa tình nhân ở bên ngoài, đối tượng thường là phụ nữ đã có chồng hoặc trong nghề nghiệp. Hành hạn đến cung này, công việc làm ăn dễ bị phá sản, sập tiệm. Nếu cung quan lộc chuyển phi Hóa Kị nhập cung tử nữ, là ý tượng: nhà vàng giấu mĩ nhân.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung điền trạch:

Con cái tiêu xài tiền của mệnh tạo, quan tâm gia đình, không thích ra ngoài, thường xảy ra tranh chấp với người nhà. Mệnh tạo có duyên bạc với con cái, ít con, có thể nhận con nuôi; bất kể mệnh tạo có thích hay không, cũng thường phải bôn ba ở bên ngoài, tiêu xài nhiều tiền ở bên ngoài, dễ bị trộm cắp; không nhất định sẽ có đào hoa, nếu có giao du đào hoa cũng không lâu, không giữ được; có quan hệ ờ chung như vợ chồng trước khi kết hôn, mang đào hoa về nhà.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung phúc đức:

Con cái có bụng dạ hẹp hòi, dễ xung động, tư tưởng khá cực đoan, tâm thần không yên ổn, hay đâm đầu vào những chuyệnkhông giải quyết được, bình thường lười biếng, tính tình không cởi mò, nhưng cũng có thể vất vả vì người khác mà không than oán, ưa hưởng thụ, không giữ được tiền, tiêu xài tiền của mệnh tạo, tài sản cùa mệnh tạo sẽ để lại cho con cái. Mệnh tạo không nên hợp tác, hợp tác rẩt khó kiếm tiền; nếu có đào hoa, phải dùng tiền mua.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung phúc đức xung cung tài bạch, là ý tượng: nếu mệnh tạo hợp tác với bạn bè, bản thân bạn bè sẽ bị bất lợi.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu:

Con cái thiện lương, không làm chuyện xấu, trực tính, hiếu thuận với cha mẹ, sức khỏe của con cái không tốt, nhiều bệnh đau, vận khí kém; không được bậc trường bối nâng đỡ. Nữ mệnh thường khó sinh, hoặc sau khi sinh con cơ thể không được khỏe, hoặc ít con cái. Nữ mệnh nếu là Văn Xương Hóa KỊ hay Liêm Trinh Hóa Kị ờ cung phụ mẫu, là ý tượng: phải sinh mỗ; có bệnh kín về tính dục. Hành hạn đến cung này, là tượng bị giảm bớt, tổn thất; dịch mã, lang bạt tha hương. Nếu cung phụ mẫu chuyển phi Hóa Kị nhập cung tử nữ, là ý tượng: tinh trùng loãng; xuất ngoại có tai ách, sự cố về con cái, hoặc giải thể việc hùn hạp, hợp tác (lấy tình hình phi Hóa Lộc để quyết định).

Cung quan lộc phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung quan lộc phi hóa

(1)       Cung quan lộc phi Hóa Lộc:

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Là người thông minh, tài cán, có sở trường chuyên môn, có duyên với người chung quanh, sự nghiệp ổn định, có thể kiếm tiền, có khả năng làm việc độc lập, sống tự lập, sáng lập cơ nghiệp có thành tựu.

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Về công việc hay sự nghiệp, có thể được anh chị em và bạn bètrợ lực.

Có hiện tượng mở rộng sự nghiệp.

Dùng tiền nhờ người khác giới thiệu để có chức vị hoặc thăngtiến.

Sự nghiệp thành công, mang tài phú đến cho gia đình.

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Hoàn cảnh sự nghiệp khá tốt đẹp, có không gian để phát triển, có thể được người phối ngẫu tương trợ, phát triển theo nhiều hướng, có thể mang tài phú đến cho gia tộc.

Trong công việc hay sự nghiệp, quý nhân phần nhiều là người khác giới. Rất có duyên với người khác giới, dễ gặp đào hoa ở bên ngoài.

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Có thể hợp tác làm ăn với người khác, phát triển rất tốt.

Đi xa kiếm tiền, có thể làm ăn kinh doanh ngành giải trí hoặc bất động sản, có thế mở công ti, mở tiệm.

Cũng dễ có đào hoa.

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp làm ăn, nguồn tiền hưng vượng có thể kiếm tiền, kiếm được tiền sẽ tái đầu tư, không lo thiếu vốn.

Dựa vào bản thân để kiếm tiền, công việc hay sự nghiệp kiếm được nhiều tiền, nếu đi làm sẽ hưởng lương cao.

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Công việc hay sự nghiệp gặp nhiều cơ hội tốt, thường được quý nhân đề bạt, nâng đỡ, thăng tiến nhanh.

Làm việc bận rộn, có cơ hội phát triển theo nhiều hướng, thường được học tập những kiến thức chuyên môn mới.

Làm việc trong tâm trạng vui vẻ, công việc phát triển rất bình ổn, thuận lợi.

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Công việc hay sự nghiệp có thể phát triển ở phương xa, nên khai phá thị trường nước ngoài; ra bên ngoài có thể đắc ý, được nhiều quý nhân tương trợ, thích hợp mậu dịch, buôn bán.

Tự lập kiếm tiền, có thể người phối ngẫu cũng thành tựu tài phú, người phối ngẫu cũng sẽ đầu tư vào sự nghiệp của mệnh tạo.

Rất có duyên với người chung quanh, nhất là người khácgiới.

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Bạn bè hoặc nhân viên có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền, công việc thuận lợi.

Có thể hợp tác làm ăn với người khác; sống hòa hợp với đồng nghiệp.

Dùng tiền nhờ ngưòi ta giới thiệu để được thăng quan tiếnchức.

Cung quan lộc tự Hóa Lộc:

Có hứng thú với nhiều lãnh vực, không thể chuyên nhất, học hành không chuyên tâm, ham vui; không thích cuộc sống đơn điệu khô khan, vì vậy thường thường học nhiều mà không chuyên.

Là người xừ sự rất vững vàng, mặt nào cũng thấu đáo, không xúc phạm hay làm phiền lòng người khác, vì vậy mệnh tạo đến đâu cũng được đón tiếp, quan hệ xã hội rất tốt.

Công việc hay sự nghiệp đều phát triển thuận lợi.

Rất biết làm ăn, đi làm việc cho công ti sẽ hưng vượng hơn, vận kinh doanh của công ti rất tốt.

Nếu tự sáng lập cơ nghiệp, có thể được người phối ngẫu trợ lực, dễ được quý nhân giúp đỡ, công việc hay sự nghiệp có thể mang lại tiền bạc, tự kiếm tiền tự tiêu xài.

Tình cảm vợ chồng rất tốt đẹp. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Sẽ mua tậu bất động sản, tích lũy tiền được, có thể làm ăn kinh doanh liên quan đến bất động sản, cũng có thể mở tiệm, kinh doanh tại nhà, kết hợp cơ sở doanh nghiệp với nhà ở thành một chỗ.

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Công việc hay sự nghiệp có cơ hội kiếm được nhiều tiền, có khả năng làm việc độc lập; kiếm được tiền sẽ hưởng thụ.

Đầu tư vào sự nghiệp của người phối ngẫu, hoặc cùng làm ăn với người phối ngẫu.

Cung quan lộc phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Công việc hay sự nghiệp gặp cơ hội tốt, có thể được trường bối, quý nhân đề bạt, nâng đỡ, dễ thăng tiến, chức vị cao, có tài năng, học giỏi.

Làm công chức có thể thăng tiến, thành quan to.

Về công việc, có thể được cha mẹ quan tâm, hoặc có thể làm những công việc về văn thư, hoặc làm cho cơ quan công.

(2) Cung quan lộc phi Hóa Quyền:

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Sáng suốt, tài cán, phản úng lanh lẹ, có thế phát triển sự nghiệp từ nhỏ thành lớn.

Xem trọng sự nghiệp, lao tâm lao lực, có thể sáng lập cơ nghiệp, nắm quyền, được người ta kính trọng, có thành tựu.

Có năng lực làm việc, không ngừng tiến bộ, bận rộn vì sựnghiệp.

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Anh chị em giao du với người bên ngoài gặp nhiều cạnh tranh, dễ có thị phi.

Công việc hay sự nghiệp có lực cạnh tranh khá mạnh, có cơ hội mớ rộng hoặc thăng quan.

Tài năng được khẳng định, nhờ người trung gian giới thiệu mà có việc làm hoặc được thăng tiến.

Kiếm được tiền trong sự nghiệp mang ra chi dụng trong giađình.

Đầu tư hợp tác với người khác có thể được nắm thực quyền.

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung phu thê:

Sự nghiệp có phát triển, sẽ có đấu đá cạnh tranh với người khác, dễ gặp phiền phức, rắc rối, cũng dễ bị tiểu nhân gây trở ngại.

Người phối ngẫu có trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo, sẽ can dự vào sự nghiệp của mệnh tạo, nắm thực quyền.

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Con cái có tài năng, cá tính mạnh, dễ bị thương bất ngờ.

Có thể hợp tác với người khác, có lực cạnh tranh, sự nghiệp sẽ mờ rộng, có thể phát triển ra nơi khác.

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Công việc hay sự nghiệp có thể kiếm được tiền, tham vọng kiếm tiền rất lớn, đầu tư kiếm được tiền sẽ mang ra tái đầu tư.

Là người gánh trách nhiệm trong công việc, khá bận rộn, gặp nhiều cạnh tranh.

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Rất có tinh thần trách nhiệm, cũng rất vất vả, đủ sức chịu đựng, có thể vì làm việc quá sức mà ảnh hường đến sức khỏe, dễ bị đau lưng.

Ra bên ngoài dễ có hành vi đào hoa, hay xung động dục tình.

Cơ sở doanh nghiệp có quy mô lớn.

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Thích hợp với công tác ngoại vụ, nên phát triển sự nghiệp ra ngoài, có thể khai phá thị trường nước ngoài, có lực cạnh tranh, có cơ hội kiếm nhiều tiền.

Nếu ở quê hương sẽ khó có cơ hội phát triển sự nghiệp.

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Trong công việc, cấp trên nghiêm khắc mà lại hay thay đổi ý kiến, rất khó phục tùng, dễ xảy ra tranh chấp.

Nhờ người quen biết giới thiệu để có việc làm hoặc được thăng tiến.

Đầu tư vào sự nghiệp do bạn bè nắm quyền, sẽ kiếm đượctiền.

Công việc hay sự nghiệp sẽ có thành tựu cao hơn anh chị em.

Cung quan lộc tự Hóa Quyền:

Xem trọng sự nghiệp, có năng lực sáng lập cơ nghiệp, có lực xung kích, dễ được người ta đề bạt, nâng đỡ, dễ thăng tiến.

Thích nắm quyền lực, cạnh tranh với người khác dễ xảy ra chuyện phiền phức, rắc rối.

Có lúc làm việc theo kiểu đầu voi đuôi chuột, trước nóng sau nguội; có lúc chỉ biết xông tới, không có các biện pháp hỗ trợ theo sau hoặc không cách nào kết hợp với người khác, làm cho vấn đề thêm phức tạp.

Hay tranh chấp ý kiến với người phối ngẫu, người phối ngẫu sẽ can dự vào công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Công việc hay sự nghiệp có thể được dòng họ trợ lực, có thể phát triến ở quê nhà.

Có thể làm những công việc liên quan đến kinh doanh bất động sàn; có tham vọng lớn, kiếm được tiền sẽ mang ra tái đầu tư.

Có thể mờ tiệm làm ăn tại nhà.

Cung quan lộc phi Hóa Quyên nhập cung phúc đức:

Công việc hay sự nghiệp có cơ hội kiếm được nhiều tiền.

Đầu tư sự nghiệp khá phô trương, xem trọng phong cách, có tác phong ở thế mạnh.

Nếu đi làm hưởng lương, là người rất có năng lực, thăng tiếnnhanh.

Người phối ngẫu rất có năng lực, gặp nhiều cạnh tranh trong công việc hay sự nghiệp, có thể nắm quyền.

Cung quan lộc phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Thông minh, có cố gắng, có tài năng, lúc còn đi học đã có thành tích tốt, lúc đi làm thì quyền cao chức trọng, thăng tiến nhanh, có thể làm quan lớn.

Sự nghiệp thành tựu là nhờ làm việc chăm chỉ, hại ít mà lợi nhiều, khá vất vả.

Là người ưa tranh cãi với người khác.

(3) Cung quan lộc phi Hóa Khoa:

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Công việc hay sự nghiệp đều bình ổn thuận lợi, dễ có danhvọng.

Rất có duyên với người khác giới, có nhiều tri ki khác giới, giao du về phương diện tinh thần.

Thích hợp đi làm hưởng lương, làm việc có kế hoạch; nếu sáng lập cơ nghiệp, sự nghiệp tuy bình ổn, nhưng danh tiếng lớn hơn lợi ích, có quy mô làm ăn không lớn.

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Công việc hay sự nghiệp đều bình ổn thuận lợi, đi làm cho công ti có chế độ đãi ngộ hợp lí, ít xảy ra tranh luận.

Về công việc, có thể được anh chị em trợ lực, ở bên ngoài gặp nhiều quý nhân.

Nhờ người khác giới thiệu mà có việc làm.

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Nên đi làm hưởng lương, có quý nhân giúp đỡ, đề bạt, nângđỡ.

Công việc hay sự nghiệp đều bình ổn, nếu sáng lập cơ nghiệp thì danh sẽ lớn hơn lợi, quy mô không lớn, lợi ích không nhiều.

Người phối ngẫu có tài năng, nổi tiếng ở bên ngoài.

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Con cái có khí chất, có tài năng, cơ thể khỏe mạnh, ít bệnh tật.

Công việc hay sự nghiệp đều bình ổn thuận lợi có thanh danh, ở bên ngoài phần nhiều đều được quý nhân tương trợ.

Nếu có hợp tác làm ăn, sẽ bình ổn, nhưng quy mô không lớn, lợi nhuận ít, nhưng có tiếng tăm.

Rất có duyên với người khác giới, giao du với nhiều bạn bè khác giới, thiên về phương diện tinh thần.

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Đi làm hưởng lương, tiền bạc bình ổn, ít có sóng gió, thu nhập ít nhưng đều đặn.

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp làm ăn, giỏi tính toán giá thành, vốn ít, lời ít, chi cầu có tiếng; sẽ kiếm được tiền, lợi nhuận không nhiều, nhưng bình ổn.

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Cơ sở doanh nghiệp có quy mô không lớn, nhưng rất ngăn nắp, đi làm thoải mái, vui vẻ; công việc hay sự nghiệp đều bình ổn thuận lợi.

Cơ thể khỏe mạnh, làm việc có kế hoạch, rất có tài năng mà không phô trương; nếu có nạn tai bệnh tật, dễ gặp thầy thuốc giỏi,hoặc được quý nhân tương trợ.

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Có thể phát triển sự nghiệp ở phương xa, dễ được quý nhằn tương trợ, có thể nổi tiếng, nhưng danh lớn hơn lợi; nên kinh doanh buôn bán, mậu dịch, kiếm tiền môi giới trung gian.

Đi làm hường lương có thể phát huy tài chuyên môn, dễ có danh vọng.

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Có thể nhờ bạn bè giới thiệu mà có việc làm.

Sống hòa hợp với đồng sự, người hợp tác, phần nhiều đều cótrợ lực.

Cung quan lộc tự Hóa Khoa:

Thích học tập, hiểu biết rộng, thành tích tốt.

Công việc nhờ người khác giới thiệu mà được, thuận lợi bìnhổn.

Nơi đi làm (công ti…) khá ổn định, nhưng sẽ không phát triển thành quy mô lớn.

Làm việc có phong độ, tính tình ôn hòa, lễ độ; trong công việc dễ được cấp trên, trường bối hoặc quý nhân xem trọng, đề bạt, nâng đỡ.

Đối tượng làm ăn khó giật tiền, vốn liếng xoay chuyển thuận lợi. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Thu nhập bình ổn, công việc thuận lợi và ổn định, tài phú có thể tích lũy dần dần, phần nhiều được dòng họ trợ lực.

Có thể mua tậu nhà cửa theo phương thức trả góp, có thể làm môi giới bất động sản để kiếm hoa hồng/ hoặc làm nghề liên quan đến kinh doanh bất động sản.

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Nguồn tiền bình ổn thuận lợi, không dao động lớn, có kế hoạch điều chuyển vốn liếng rõ ràng, không lo bị lãng phí.

Công việc hay sự nghiệp phù hợp với hứng thú, có thể vận dụng được sở học.

Vợ chồng đều thích hợp đi làm hưởng lương hoặc theo ngành văn hóa giáo dục, trợ lực lẫn nhau.

Cung quan lộc phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Công việc hay sự nghiệp có thể được cha mẹ, trưởng bối quan tâm giúp đỡ, đề bạt, nâng đỡ; việc học thuận lợi, nhậm chức bình ổn; đại đa số đều làm công việc về văn, trong cơ cấu lón hoặc cơ cấu công, dễ thăng tiến, tài năng có chỗ để phát huy.

Cha mẹ là người sáng suốt, có lí lẽ, gia giáo, thỏa mãn với tổnghiệp.

(4) Cung quan lộc phi Hóa Kị:

Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung mệnh:

Khá bảo thủ, không cầu tiến bộ, tham vọng không lớn, không có hoài bão.

Công việc hay sự nghiệp đều không được thuận lợi, vất vả mà thành quả ít, thường có ý nghĩ thay đổi công việc làm.

Tiết kiệm, tự kiếm tiền tự tiêu xài, khí độ hẹp hòi, không nên làm chủ sáng lập cơ nghiệp; nếu hoàn cảnh bức bách phải sáng lập cơ nghiệp, không do ý muốn, thì nên làm ăn nhỏ sẽ ổn định hơn.

Dù có tiền trong tay cũng than túng thiếu, rất khó mượn tiên mệnh tạo.

Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ:

Công việc hay sự nghiệp đều không thuận lợi, sẽ xảy ra tình trạng đứt đoạn.

Sự nghiệp lỗ vốn khó chống đỡ, sinh kế gia đình thu không bằng chi, công việc làm gặp nhiều phiền phức, rắc rối.

Anh chị em không trợ lực, mạnh ai nấy lo.

Dễ phạm tiểu nhân, phần nhiều dễ bị bạn bè ảnh hưởng, phát triển theo chiều hướng xấu.

Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung phu thê:

Là Thủy Mệnh Kị, sự nghiệp có biến động thay đổi lớn, nênlàm ăn buồn bán có tính luân chuyển nhanh, bằng tiền mặt, quy mô không cần lớn, thì có thế kiếm được tiền.

Nếu cung phu thê có Hóa Kị [năm sinh], là hình thành Nghịch Thủy Kị, có thể theo sự nghiệp sản xuất theo kiểu dây chuyền; mà không có tình nhân ở bên ngoài.

Nếu không phải Nghịch Thủy Kị, là ý tượng: hôn nhân duyên bạc, khó kết hôn, hơn nữa dễ có người thứ ba xen vào hôn nhân.

Sẽ vì tình cảm hôn nhân không được thuận lợi mà ảnh hưởng đến tình hình phát triển sự nghiệp.

Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung tử nữ:

Công việc hay sự nghiệp không thuận lợi, nên rời quê hương đi xa để tìm hướng phát triển sẽ tốt hơn.

Không nên đầu tư bất động sản, không nên mở tiệm hoặc mờ công xưởng; nếu có hợp tác làm ăn, sẽ gặp nhiều phiền phức, rắc rối, dễ lỗ vốn.

Muốn đầu tư sự nghiệp phải bán bớt hoặc thế chấp bất động sản để xoay sở vốn liếng.

Vì công việc làm ăn, nên thường ở bên ngoài giao tế thù tạc, dễ chuốc đào hoa phiền phức, rắc rối.

Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung tài bạch:

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp, sẽ thiếu vốn, thu hồi vốn chậm, vòng vốn xoay chuyển thường bị trở ngại.

Không nên mờ rộng sự nghiệp thái quá, sẽ gặp nguy cơ về tàichính.

Đi làm hưởng lương, làm công chức, vì muốn gấp rút kiếm tiền mà đi vào con đường hung hiểm, dễ có hành vi tham ô.

Quan hệ vợ chồng không được hòa hợp, thích hường thụ, ưa tiêu xài tiền, không biết tiết kiệm.

Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung tật ách:

Công việc hay sự nghiệp đều không thuận lợi, có hiện tượng tuốt dốc; nghề nghiệp đang làm dễ rơi vào tinh trạng suy thoái, lỗi thời.

Nặng tinh thần trách nhiệm, không biết cách từ chối ngườikhác, làm việc lại không nắm được trọng điểm, sẽ rất vất vả, dễ mang bệnh nghề nghiệp, công việc hay sự nghiệpđều có thành tích kém, vận kinh doanh không tốt, phải gượng chống đỡ.

Công việc không có cơ hội tốt, dễ phạm tiểu nhân, kiện tụng,thị phi

Công việc có nhiều biến động.

Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

Nên đi làm hường lương, không nên sáng lập cơ nghiệp, công việc có nhiều áp lực, thường bị tắc nghẽn, gặp nguy cơ.

Nên làm công tác ngoại vụ, làm công tác nội vụ sẽ gặp nhiềuthị phi.

Thường vì công việc mà phải bôn ba ờ bên ngoài, nên đi xa tim hướng phát triển sẽ thuận lợi hơn.

Công việc bận rộn, thường biến động, thu nhập ít, vận trình phần nhiều không được thuận lợi.

Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Công việc hay sự nghiệp đều khó có thành tựu, dễ bị bạn bè ảnh hưởng, bị bạn bè chơi xấu.

Dễ bị bạn bè giật nợ, thành quả do vất vả khổ sở làm ra dễ bị bạn bè hoặc cấp trên đoạt mất, tiền kiếm được đều rơi vào túi người khác.

Dễ phạm tiểu nhân, gặp nguy cơ về tài chính, sinh kế gia đình bị tổn hại.

Đi làm hưởng lương, khó hòa hợp với cấp trên, tình trạng nơi làm việc (công ti…) không được tốt cho lắm.

Cung quan lộc tự Hóa Kị:

Công việc hay sự nghiệp đều không ổn định, không có bối cành tốt, nơi làm việc (công ti…) dễ bị phá sản, đóng cửa; thường hay thay đổi công việc.

Tầm nhìn thiển cận, khó kiếm tiền, không thể thành tựu sự nghiệp lớn, cũng khó sáng lập cơ nghiệp, khó giữ được thành quà, thích hợp đi làm hưởng lương.

Trong công việc, dễ gặp tiểu nhân, chuốc thị phi.

Thời kì còn đi học hành, chi học qua loa hời hợt, dễ nghỉ học hoặc chuyển trường, thay đổi nhiều trường.

Công việc hay sự nghiệp không được thuận lợi, ảnh hường đốn cuộc sống tình cảm hôn nhân.

Nếu muốn đầu tư, chi thích hợp đầu tư ngắn hạn, thu hồi vốnnhanh.

Đối tượng làm ăn dễ xảy ra tình trạng phá sản, đóng cửa, giật nợ. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung điền trạch:

Không nên hợp tác làm ăn với người khác, nên làm ăn bằng tiền mặt.

Mở tiệm tại nhà, hoặc biến phòng khách thành phòng làmviệc.

Có thể là môi giới mua bán bất động sản để hưởng hoa hồng; muốn mua bán bất động sản, không đủ vốn.

Sự nghiệp dễ bị tan rã hợp tác, gia vận không được hanh thông, thuận lợi.

Dễ có tình nhân ở bên ngoài, sẽ gặp nhiều phiền phức, rắc rối.

Cung quan lộc phi Hóa KỊ nhập cung phúc đức:

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp làm ăn không đủ vốn, phải mượn tiền để xoay sở, kinh doanh không giỏi, dễ bị lỗ vốn.

Sự nghiệp không gặp cơ hội tốt, vì bận rộn làm việc mà không được hưởng phước.

Vì công việc làm ăn, phải tiêu tốn nhiều tiền cho việc thù tạc, nhưng thu về ít.

Vợ chồng sống với nhau không được hòa hợp, dễ vì công việc hay tiền bạc mà xảy ra tranh cãi.

Cung quan lộc phi Hóa KỊ nhập cung phụ mẫu:

Lúc còn đi học, mệnh tạo không thích học hành, hay nghỉ học, bỏ học nửa chừng hoặc thường hay chuyên trường.

Là người không nói thực, ưa giả dối, nhưng mềm lòng, không có ý muốn hại ai.

Đi làm hưởng lương có khả năng bị giảm biên chế, hoặc bị đuổi việc.

Sự nghiệp sẽ tuột dốc, dễ bị phá sản, đóng cửa; dễ phạm tiểu nhân, thị phi về văn thư giấy tờ hợp đồng và thị phi kiện tụng.

Vòng vốn xoay chuyển không thuận lợi, nợ đầy người, khó trả, dễ bị người ta làm khó, gây lụy.

Làm công nhân viên chức suốt đời khó có cơ hội thăng tiến.

Sức khỏe kém, giảm trí nhớ, hiệu quả công việc không đượctốt.

Cha mẹ có tính bảo thủ, ưa so đo tính toán, có thừa kế sản nghiệp của tổ tiên.

Cung thiên di phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung thiên di phi hóa

(1)Cung thiên di phi Hóa Lộc:

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Là người thông minh, ở bên ngoài có duyên với người chungquanh.

Kiếm được tiền thích hưởng thụ, ra ngoài vui vẻ, lộc ăn không thiếu.

Ra ngoài phải dựa vào bản thân, có nhiều cơ hội, kiếm đượctiền.

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Rất có duyên với người chung quanh, giao du rộng, hòa hợp với bạn bè, tình cảm anh chị em tốt đẹp, vui vẻ hạnh phúc.

Có thể nhờ anh em hoặc bạn bè trợ giúp mà kiếm tiền, có tiền cũng mang về cho anh em bạn bè hường chung.

Công việc hay sự nghiệp phát triển thuận lợi, có nhiều cơ hội kiếm tiền.

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Sự nghiệp có không gian để phát triển, có thể được người phối ngẫu trợ giúp, làm cho sự nghiệp phát triển thuận lợi.

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, có thể nhờ quý nhân khác giới tương trợ mà lập nên cơ nghiệp, có nhiều cơ hội kiếm tiền.

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Con cái có duyên với người chung quanh, ra ngoài vui vẻ, có nhiều trợ lực.

Con cái sống với nhau vui vẻ hạnh phúc.

Ra ngoài nhiều giao tế thù tạc, thích nơi đông đúc, náo nhiệt quan hệ giao tế rất tốt.

Ra ngoài vui vẻ, nên đi xa, thường biến động; phần nhiều lúc xuất ngoại đều có kế hoạch tỉ mỉ.

Ở bên ngoài có nhiều cơ hội kiếm tiền.

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Tài vận tốt, có nhiều cơ hội kiếm tiền.

Sống khá thọ, có thế trên 90 tuổi.

Người phối ngẫu sẽ giúp vốn cho mệnh tạo làm ăn.

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Là người lạc quan, tâm trạng bình hòa, có duyên với người chung quanh, có quan hệ tốt, ra ngoài thường được như ý, thân tâm vui vẻ.

Ở bên ngoài gặp nhiều đào hoa, cũng cần phải chú ý vấn dề ăn uống.

Cung thiên di tự Hóa Lộc:

Rất có duyên với người chung quanh, có tính độc lập và tự chủ; có thể gánh vác công việc một mình ở bên ngoài.

Thường bôn ba ở bên ngoài, thời gian ở bên ngoài nhiều và lâu dài, nhưng lúc ở ngoài sẽ nhớ nhà, cho nên thường cũng không đi xa lắm.

Đi xa dễ kiếm tiền hơn, cũng có phát triển hơn.

Kiếm tiền nhẹ nhàng, tự kiếm tiền tự tiêu xài.

Có tiền cũng không mua nhà cửa, cảm thấy thỏa mãn với gia sản của tổ tiên. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Rất có duyên với người chung quanh, giao du rộng, hòa hợp với bạn bè; có thể được anh em, bạn bè trợ giúp mà kiếm được tiền, có tiền cũng sẽ mang về cho anh em và bạn bè cùng hưởng.

Công việc hay sự nghiệpổn định.

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Công việc hay sự nghiệp khá bôn ba vất vả, nhưng có nhiều cơ hội kiếm tiền, tài vận tốt.

Có thể được cấp trên xem trọng, đồng sự vui vẻ.

Sống rất thọ, có thể thọ trên 90 tuổi.

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Ra ngoài có nhiều cơ hội kiếm tiền, có thể mua tậu nhà cửa, nuôi dưỡng gia đình.

Sàn nghiệp sẽ tăng lên, vợ chồng hòa mục.

Cẩn thận phòng nạn tai bất ngờ.

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Ra ngoài có khẩu phúc, tài vận tốt, được hưởng thụ.

Vợ chồng hòa mục.

Sự nghiệp của người phối ngẫu có phát triển.

Cung thiên di Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Ra ngoài tự lo liệu, không để người khác phải lo lắng; dễ được trường bối, quý nhân tương trợ.

Thích hợp làm công chức, cẩn thận phòng nạn tai bất ngờ.

Chú ý thói quen ăn uống, và vấn đề vệ sinh.

(2)Cung thiên đi phi Hóa Quyền:

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Có năng lực và tài năng, là người có bản lãnh; ra ngoài biểu hiện ưu tú, được người ta tôn trọng và khẳng định.

Nhưng nếu mệnh tạo muốn nắm quyền hoặc tranh giành địa vị lãnh đạo với người khác, sẽ dễ xảy ra phiền phức, rắc rối.

Lực cạnh tranh khá mạnh, có phát triển, cần phải trải qua nỗ lực phấn đấu mới có thành tựu.

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Giao tế rộng, có tác phong thương nghiệp đô thị; có tài năng, địa vị và danh vọng, ưa tranh cường hiếu thắng, thích làm nhân vật lãnh đạo, tranh giành địa vị, mà xúc phạm, làm người khác khó chịu, chuốc thị phi.

Công ti hoặc nơi làm việc có lực cạnh tranh.

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu có địa vị, có thể nắm quyền, hay có nhiều ý kiến, dễ xảy ra tranh chấp.

Sự nghiệp thuận lợi, có nhiều cơ hội phát triển.

Người phối ngẫu rất có năng lực, có tài năng, làm việc chăm chi hay cạnh tranh, nhiều thị phi.

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Thích ra bên ngoài, ở bên ngoài phần nhiều đều có biểu hiện ưu tú; ở nhà hay ra oai, ưa khiêu khích.

Hợp tác làm ăn có phát triển.

Ở bên ngoài dễ có đào hoa theo kiểu nhục dục, dễ có hành vi khinh suất.

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Thích kiếm tiền, cũng có nhiều cơ hội; khá bận rộn, vì công việc làm ăn mà phải giao tế thù tạc nhiều.

Kiếm tiền vất vả, gặp nhiều cạnh tranh.

Tiêu xài tiền rộng rãi cho việc hưởng thụ; có phong cách thương nghiệp đô thị.

Có thể dựa vào tài năng, nghề nghiệp chuyên môn để tự lực kiếm tiền.

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Cá tính mạnh, rất nóng nảy, sức hoạt động mạnh.

Cơ thê dễ bị tai nạn gây tổn thưcmg.

Có tài năng, sự nghiệp như ý, có tham vọng quyền lực, dễ xảy ra xung đột, sẽ gặp phiền phức, rắc rối.

Tâm trạng bất ổn, dễ có mâu thuẫn nội tâm.

Cung thiên di tự Hóa Quyền:

Không quá tín nhiệm ai, trong ngoài phân biệt rất rõ ràng, khá chuyên quyền, sợ quyền lực rơi vào tay người khác.

Cá tính mạnh, sáng suốt tài cán và có kinh nghiệm, thích lãnh đạo người khác, nhưng lại không có thực quyền.

Thích đấu đá với người khác, dễ chuốc thị phi.

Tính bướng binh, ưa ra oai, phách lối, không câu nệ tiểu tiết.

Thích biểu hiện cái tôi, ưa được người ta kính trọng, dễ phạm tiểu nhân.

Sức hoạt động khá mạnh, làm việc khó giữ giới hạn cùa mình,ưa can thiệp, xen vào chuyện cùa người khác.

Ờ bên ngoài dễ bị tổn hại. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Giao du rộng, tiêu xài tiền hào phóng, giỏi giao tế, có năng lực lãnh đạo, được nhiều trưởng bối và bạn bè trợ lực.

Giao du bạn bè có chọn lựa, bạn bè có năng lực, cạnh tranh nhau, dễ có tranh chấp.

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Có tinh thần trách nhiệm, có nhiều cơ hội thăng tiến, sùng thượng địa vị và quyền lực, có xung lực sáng lập cơ nghiệp, sự nghiệp có phát triển.

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Bất động sản thường sẽ tăng giá trị, không thỏa mãn với tổ nghiệp.

Mua thêm bất động sản, hoặc cho thuê nhà.

Thường ra ngoài, ờ bên ngoài không bị câu thúc.

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Thích hường thụ, sẽ phô trương, sang trọng, hào phóng, ưa thể diện, tạo sự chú ý.

Có năng lực quản lí tài chính, tài vận tốt.

Cung thiên di Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Ra ngoài được trưởng bối, quý nhân đề bạt, nâng đỡ, trợgiúp.

Ra ngoài dễ bị người ta cưỡng bức, gây tổn thương, khiến người nhà lo lắng.

(3)Cung thiên di phi Hóa Khoa:

Cung thiên di tự Hóa Khoa:

Nói năng nhã nhặn, cử chỉ có phong độ, lịch sự, thông minh,hiền hòa, không tính toán so đo.

Nên đi xa để học tập, ròi xa gia đình tìm hướng phát triển sẽ dễ có thanh danh.

Ở bên ngoài cát lợi, làm việc sẽ có quý nhân giúp đỡ, giới thiệu, đề bạt, nâng đỡ; thích hợp làm công việc về văn. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Rất có duyên vói người chung quanh, cộ tiếng tăm ờ bên ngoài, có thể nhờ văn hóa nghệ thuật mà danh tiếng vang xa.

Ra bên ngoài sẽ vui vẻ, được nhiều quý nhân tương trợ.

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Trợ lực cho anh chị em, là quý nhân của họ.

Xã giao hòa hợp với bạn bè, bạn bè phần nhiều là người hiền hòa, lễ độ, “quân tử chi giao”, bạn bè thường là người có tiếng tăm.

Bạn bè phần nhiều có thể giúp đỡ lẫn nhau.

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Sáng lập được cơ nghiệp, trong công việc có quý nhân giúp đỡ, sự nghiệp bình ổn, có tiếng tăm nhưng không mở rộng.

Người phối ngẫu có thanh danh, có trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo.

Vợ chồng sống với nhau bình yên, hòa hợp, ít xảy ra tranhchấp.

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Thường đi xa, ra ngoài nhiều vui vẻ, có quý nhân giúp đỡ; cũng sẽ có đào hoa, nhưng thuộc loại đào hoa về tinh thần.

Mệnh tạo ờ bên ngoài thường nghĩ về gia đình; con cái ở bên ngoài có tiếng tăm.

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Dùng tiền có kế hoạch rõ ràng, cân đối thu chi, thu nhập ổn định, tài vận bình ổn, thuận lợi, ít nhưng đều đặn.

Ở bên ngoài có quý nhân giúp đỡ, xừ sự với mọi người một

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Rất có duyên với người chung quanh, sức khỏe tốt, gặp nhiều quý nhân, dễ được trưởng bối quan tâm.

Ở bên ngoài có tâm tình tốt, tâm trạng ổn định, ít nạn tai.

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Giao du với bạn bè hiền hòa, lễ độ, có quý khí,cólítính,cónhiều trợ lực, có thể giúp đỡ lẫn nhau.

Anh chị em quan tâm lẫn nhau, đối xử với nhau rất tốt, ít có chuyện tranh chấp.

Bạn bè phần nhiều đều có chút tiếng tăm.

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Công việc hay sự nghiệp đều bình yên, ổn định, có tiếng tăm, ít xày ra biến động, nhưng quy mô không lớn.

Đi làm hưởng lương sẽ ổn định, dễ thăng tiến.

Vợ chồng hòa hợp, ít có chuyện tranh chấp.

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Thường có cơ hội đi ra ngoài, sinh hoạt gia đình vui vẻ, có không khí thư hương thanh nhã, có danh tiếng.

Gia sản ít biến động, cảm thấy thỏa mãn với tổ nghiệp, sống yên ở quê nhà.

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Ra ngoài có tâm tình tốt, có thể hường phước, làm công việc khá nhàn hạ.

Dùng tiền có kế hoạch rõ ràng, có thể cân đối thu chi, “tài vận” binh ổn, ít sóng gió.

Cung thiên di Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Có thể được trường bối quan tâm chiếu cố, đề bạt, nâng đỡ.

Ra bên ngoài không được chuyện thị phi, tâm tình ổn định, có nhiều trợ lực, không làm cho gia đình lo lắng.

(4)Cung thiên di phi Hóa Kị:

Cung thiên di Hóa Kị nhập cung mệnh:

Không thích đi xa, đi xa sẽ muốn về nhà, không chịu ở lại lâu; nhưng cũng thường bôn ba ở bên ngoài.

Ra bên ngoài không được thuận lợi không nên đi xa làm ăn, ở bên ngoài không có quý nhân, dễ phạm tiểu nhân, duyên với người chung quanh rất kém, thường bị thiệt thòi.

Sự nghiệp ở tha hương hay nước ngoài đều bất lợi, nên phát triến ở quê nhà, thích hợp làm nghề buôn bán có tính lưu động.

Không nên đầu tư sáng lập cơ nghiệp, thích hợp dựa vào nghề nghiệp chuyên môn để mưu sinh.

Đi xa dễ gặp sự cố giao thông, nên cẩn thận phòng tai họa “huyết quang”.

Cung thiên di Hóa Kị nhập cung huynh đệ:

Anh chị em không có trợ lực, bạn bè giao du không nhiều, ít bạn bè tri kỉ, bạn bè không trợ lực, qua lại tiền bạc với bạn bè dễ gặp phiền phức, rắc rối.

Công việc hay sự nghiệp không được thuận lợi, ít phát triển.

Ra bên ngoài sẽ tiêu xài nhiều tiền, thu không bằng chi, ảnh hưởng đến sinh kế gia đình.

Cung thiên di Hóa KỊ nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu tiết kiệm tiền, sợ bị chịu thiệt, hay so đo tính toán.

Sự nghiệp rơi vào hoàn cảnh xấu, không thuận lợi, mệt mỏi bận rộn mà không có thu nhập.

Ra bên ngoài dễ gặp nạn tai, dễ mắc bệnh.

Tình cảm vợ chồng không hòa hợp; sự nghiệp của người phối ngẫu không có trợ lực.

Cung thiên di Hóa Kị nhập cung tử nữ:

Dịch mã động, thường đi xa, bôn ba nhiều mà không thuận lợi.

De gặp nạn tai, thường hay dời nhà, xuất ngoại, có khả năngdi dân.

Gia vận không phát, rất ít khi ở nhà, cần chú ý phòng sự cố giao thông hoặc đánh nhau với người ta.

Cung thiên di Hóa Kị nhập cung tài bạch:

ít có cơ hội kiếm tiền, vì tiền mà phải bôn ba nhiều, khó sống hòa hợp với người khác, không biết giao tế, sự nghiệp phát triển không thuận lợi.

Ra bên ngoài không thuận lợi, vì hưởng thụ mà tiêu xài tiền một cách uổng phí.

Tài vận của người phối ngẫu không thuận lợi, tiền bạc dễ bị hao tốn; bận rộn kiếm tiền nên không có phúc hưởng thụ.

Cung thiên di Hóa Kị nhập cung tật ách:

Thường có cơ hội đi nước ngoài, nhưng ra bên ngoài không được thuận lợi, thường không hợp thủy thổ, ảnh hưởng đến sức khỏe thân tâm.

Nơi làm việc, cơ sở doanh nghiệp không ổn định.

Ra bên ngoài gặp nhiều nạn tai, tâm trạng không ổn định, dễ bị thua thiệt, ít được trưởng bối, quý nhân quan tâm.

Cung thiên di tự Hóa Kị:

Tính khí bất định, tâm trạng dễ bị hoàn cảnh bên ngoài ảnh hường hoặc kích thích.

Tính tình kì quái, thẳng ruột ngựa.

Có mặc cảm tự ti, dễ bị thiệt thòi.

Ra bên ngoài không được yên ổn, thường nhớ gia đình.

ít gặp quý nhân, duyên với người chung quanh rất kém, ít được trợ lực, dễ phạm tiểu nhân, chuốc nhiều thị phi.

Không nhẫn nại, thiếu bình tĩnh, thường có cơ hội xuất ngoại hay đi xa, ra bên ngoài sẽ bôn ba nhiều, không được thuận lợi, nên phòng nạn tai bất ngờ, dễ có “huyết quang”.

Cơ thể suy nhược, tiên thiên bất túc; làm lụng khá vất vả; giữa vợ chồng thường hay xảy ra tranh chấp.

Vận về già khá cô độc, một đời nhiều thăng trầm, khá gậpgềnh

Người phối ngẫu tiêu xài nhiều tiền ở bên ngoài. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung thiên di Hóa KỊ nhập cung nô bộc:

Anh chị em ít trợ lực, ít gặp quý nhân; không có bạn bè tri ki, ít bạn bè, giao tế kém.

Công việc hay sự nghiệp đều phát triển không thuận lợi, đi làm công ti quy mô nhỏ.

Sinh hoạt gia đình khá vất vả khổ sở.

Cung thiên di Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Sự nghiệp phát triển không thuận lợi, không có bối cảnh nhân sự tốt trong công việc, bận rộn mà thu hoạch không lớn, làm nhiều mà thành ít.

Ra bên ngoài cần phải phòng tai họa, nạn tai bất ngờ.

Không thích hợp tự sáng lập cơ nghiệp, dễ có nguy cơ.

Vợ chồng sống với nhau kkông được hòa hợp, sinh hoạt tình cảm không thuận lợi.

Cung thiên di Hóa KỊ nhập cung điền trạch:

Chủ về biến động, sẽ dời nhà hoặc sẽ dời công ti.

Ra bên ngoài dễ có sự cố giao thông, phải cẩn thận gây ra tai nạn, dễ xảy ra nạn tai bất ngờ.

Không cảm thấy thõa mãn với tổ nghiệp, nhưng khó mua tậu nhà cửa.

Cung thiên di Hóa Kị nhập cung phúc đức:

ít được hưởng phước, phúc khí kém, bận rộn nhiều mà thànhtựu ít.

Thể chất kém, tài vận không tốt.

Vì hưởng lạc mà lãng phí tiền bạc, không có kế hoạch rõ ràng, không tiết chế. Sự nghiệp của người phối ngẫu phát triển không thuận lợi, vợ chồng duyên phận bạc, thường hay xảy ra tranh chấp hoặc gần nhau ít mà xa nhau nhiều, ít trao đổi cảm thông nhau.

Cung thiên di Hóa KỊ nhập cung phụ mẫu:

Thường có cơ hội đi nước ngoài, nhưng dễ không hợp thủythổ, dễ có tai họa bất ngờ, cơ thể cũng dễ bị thương.

Ra bên ngoài phần nhiều không được thuận lợi, làm cho cha mẹ lo lắng.

Cha mẹ thường bôn ba ở bên ngoài, không thể quan tâm chăm lo nhiều cho mệnh tạo.

Gia đình của người phối ngẫu nhiều thị phi.

Cung điền trạch phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Cung điền trạch phi hóa

(1) Cung điền trạch phi Hóa Lộc:

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung mệnh:

Hoàn cảnh gia đình khá tốt, gia nghiệp hưng vượng, có thể được hưởng phước ấm của dòng họ, sản nghiệp sẽ tăng thêm.

Mạng có con cái, sinh hoạt gia đình hòa hợp vui vẻ.

Nếu có đào hoa, đối tượng là người đã từng có hôn nhân hoặc đã có con.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Cuộc sống gia đình khá sung túc, có tiền có thể giúp đỡ anh chị em, anh em sống với nhau vui vẻ, anh chị em có thể được dòng họ quan tâm chăm lo.

Có duyên với người chung quanh, sống hòa hợp với bạn bè.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Sự nghiệp phát triển có thể là nhờ có dòng họ trợ lực.

Người phối ngẫu quản lí tài chính trong gia đình, có thể sẽ lấy danh nghĩa của người phối ngẫu để mua tậu nhà cửa.

Rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn còn giao du nhiều bạn bè khác giới.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Sẽ mua tậu nhiều bất động sản, có nhiêu sản nghiệp.

Rất có duyên với người chung quanh, ra bên ngoài gặp nhiều quý nhân, thường hay giao tế thù tạc, thích chạy rong bên ngoài.

Con cái có duyên với người chung quanh, có thể được dòng họ bà con quan tâm chăm lo, ra bên ngoài cũng có quý nhân giúp đỡ.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Dòng họ bà con có thể giúp vốn cho mệnh tạo, cầm tiền trong nhà ra tiêu xài hoặc đầu tư sự nghiệp.

Có thể hợp tác làm ăn với người nhà.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Hoàn cảnh sống khá tốt, bụng dạ rộng rãi, cơ thể dễ phát phì, nhưng cũng sẽ vì việc nhà nhiều mà mệt mỏi, cẩn thận phòng bệnh đường tiêu hóa.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Có thể không có tổ nghiệp, sẽ xa quê hương để tìm hướng phát triển, và tự mua bất động sản.

Rất có duyên với người khác giới, đối tượng đào hoa là người đã từng có hôn nhân.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Có duyên với người chung quanh, giao du rộng, bạn bè có trợlực.

Vợ chồng tình thâm ý trọng, người phối ngẫu có thể được dòng họ bà con quan tâm chăm lo, cuộc sống được hưởng thụ nhiều, dễ phát phì, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa.

Cung điên trạch phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Có thể mờ tiệm tại nhà, làm ăn hưng vượng.

Mệnh tạo đầu tư sáng lập cơ nghiệp, gia đình có thể giúpvốn.

Cung điền trạch tự Hóa Lộc:

Hoàn cảnh gia đình khá tốt, có tổ nghiệp, rất có tiền, cũng rấtbiết tiêu xài tiền, tiêu xài nhiều ít chẳng quan tâm.

Mệnh tạo cũng sẽ tự mua bất động sản, nhà cửa sang trọng, cũng sẽ bán nhà; có thể làm nghề liên quan đến bất động sản hoặc kinh doanh tiền tệ.

Có duyên với người chung quanh, cũng rất có duyên với người khác giới, tính dục mạnh, sau kết hôn có thể có tình nhân ở bên ngoài, thuộc loại đào hoa nhục dục. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Có thể thừa kế tổ nghiệp, giàu có, cuộc sống sung túc, có phước để hưởng.

Cung điền trạch phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ tính tình rộng rãi, độ lượng; mệnh tạo có thể thừa kế tổ nghiệp, cuộc sống sung túc, có thể được gia đình quan tâm chăm lo, là người hiếu kính với cha mẹ.

(2) Cung điền trạch phi Hóa Quyền:

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung mệnh:

Dòng họ có tổ nghiệp, mệnh tạo có thể được thừa kế sản nghiệp của tổ tiên, nhưng sẽ xảy ra tranh chấp thị phi; sẽ mua thêm bất động sản, lúc xoay chuyển vốn liếng bị trở ngại, có thể dùng bất động sàn giải quyết.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp làm ăn, nên dựa vào sự trợ giúp cùa anh chị em.

Lúc phân chia tài sàn của dòng họ, sẽ có hành vi tranh chấptài sản

Cung điền trạch phi Hóa Quyên nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu rất có năng lực, giỏi quản lí tài chính, sau kết hôn sẽ lấy danh nghĩa của người phối ngẫu để mua bẩt động sàn, tài sàn để cho người phối ngẫu quàn lí.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Ở bên ngoài, mệnh tạo có lực cạnh tranh; sẽ xa quê hương để tìm hướng phát triển.

Con cái có tài năng, có nghề chuyên môn, ở bên ngoài được khắng định.

Rất có duyên với người khác giới, dễ có đào hoa quấn vàongười.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Mua bất động sản, phải dựa vào bản thân để kiếm tiên.

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp làm ăn, cầm tiền trong nhà ra đầu tư.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Phần nhiều dựa vào bản thân nỗ lực, nghề nghiệp chuyên môn và tài năng để mưu sinh, vì gia đình mà làm lụng vất vả.

Dễ có đào hoa quấn vào người.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Không thòa mãn với tổ nghiệp, sẽ rời quê hương đi xa để tìm hướng phát triển, ra bên ngoài kiếm tiền, sẽ mua bất động sản.

Tổ nghiệp to tát, có thành tựu, ở bên ngoài có lực cạnh tranh.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Tự giúp mình rồi người mới giúp mình, có thể phát huy sở trường của mình, được người ta xem trọng, rất có lực cạnh tranh.

Giao du nhiêu bạn bè, được bạn bè tôn trọng.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Phần nhiều dựa vào nghề chuyên môn và tài năng để mưu sinh, khá vất vả, dòng họ bà con có thể giúp vốn sáng lập cơ nghiệp.

Phần nhiều sẽ được bạn bè khác giới trợ lực, khiến đời sống tinh cãm hoặc hôn nhânxảy ra nhiều chuyện phiền phức, rắc rối.

Cung điền trạch tự Hóa Quyền:

Người trong nhà có nhiều ý kiến, ưa tranh quyền, không hòahợp với nhau.

Có duyên vói người chung quanh, xem trọng tiền bạc, tự tư tự lợi, sáng suốt tài cán, có thê làm nghề liên quan đến kĩ thuật để mưu sinh.

Sẽ mua bất động sản, có nhiều nhà cửa, có thể cho thuê.

Lúc phân chia gia sản sẽ có chuyện tranh giành. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Sinh hoạt gia đình không tiết kiệm, tiêu xài lớn, khá phôtrương.

Người phối ngẫu vì sự nghiệp mà rất bận rộn, thường phải giao tế thù tạc để tranh thủ tình cảm đối tác làm ăn.

Cung điền trạch phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ rất chủ quan , ưa ra oai, uy nghiêm, khó chấp nhận lời nói nhẹ nhàng lịch sự của người khác.

Sẽ không ngừng đầu tư vào bất động sản.

(3) Cung điền trạch phi Hóa Khoa:

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung mệnh:

Gia đình có giáo dục tốt, cuộc sống bình yên vui vẻ; mệnh tạo được gia đình quan tâm, thỏa mãn với tổ nghiệp.

Lúc thiếu vốn liếng xoay sở, sẽ lấy bất động sản thế chấp để vay tiền.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Trong anh chị em có người làm việc trong ngành văn hóa giáo dục.

Cuộc sống gia đình bình yên, ít tranh chấp với người khác.

Sinh kế gia đình bình ổn thuận lợi, có thể cân đối thu chi, tuy không nhiều, nhưng không lo thiếu.

Rất có duyên với người chung quanh, ra bên ngoài có trợ lực.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, lo liệu việc nhà có bài bản, quan hệ gia đình rất tốt, tài vụ do người phối ngẫu quản lí, thường có kế hoạch rõ ràng, không lãng phí.

Công việc hay sự nghiệp đều được gia đình và người phối ngẫu trợ lực.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Gia đình khá già, gia phong tốt đẹp, cuộc sống bình yên, ít sóng gió, gặp nạn tai có thể được quý nhân giúp đỡ.

Con cái thông minh, dễ thương, có khí chất, có thanh danh ở bôn ngoài.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Tài chính của gia đình mệnh tạo có nhiều trợ lực, sẽ có tình hình điều chuyển qua lại về tiền bạc.

Rất có duyên với người khác giới, thái độ giao du với người khác giới hiền hòa, rộng rãi, nhưng không tùy tiện.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Sinh hoạt gia đình có quy luật, cơ thể khỏe mạnh bình an; nếu gặp nạn tai, dễ được quý nhân tương trợ.

Cung điền trạch phỉ Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Gia đình có thanh danh ỡ bên ngoài, mệnh tạo ra ngoài dễ được quý nhân giúp đỡ, ít nạn tai.

Sẽ có tình hình xa quê hương để tìm hướng phát triển, không thỏa mãn với tổ nghiệp, ở bên ngoài cũng được gia đình trợ lực.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Gia đình của mệnh tạo rất thân thiết với bạn bè của mệnh tạo.

Mệnh tạo thường xuyên liên lạc với bạn bè; thích điện thoại, gời email… “tán dóc” cả ngày với bạn bè.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Thích hợp làm những công việc cần động não hoặc có tài nghệ, công việc hay sự nghiệp đều bình ổn, nhẹ nhàng và vui vẻ; giađình trợ lực nhiều.

Thu nhập ổn định, ít nhưng đều đặn.

Cung điền trạch tự Hóa Khoa:

Gia đình có giáo dục tốt, có bầu không khí thư hương, con cái diện mạo thanh tú, thông tuệ, nhu thuận, có khí chất văn nghệ.

Có năng lực quản lí tài chính, phần nhiều đều có kế hoạch rõ ràng về tài chính, lúc cần tiết kiệm thì tiết kiệm, lúc cần tiêu xài thì tiêu xài, cách hường thụ thanh nhã, không lãng phí.

Có thể có bất động sản, do người khác giúp đỡ mà có được, mua nhà không cầu lớn hoặc sang trọng, đủ ở là thỏa mãn.

Nhà ở thoải mái; cuộc sống vui vẻ.

Rất có duyên với người khác giới, giao du nhiều bạn bè khác giới, nhưng không dính dáng nhục dục. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Có nhiều phúc ấm, phùng hung hóa cát, biết trân quý đồng tiền, trân quý hạnh phúc.

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, sức khỏe tốt, chú trọng việc điều chỉnh đời sống tinh thần.

Công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu đều bình ổn, thuận lợi, nhẹ nhàng; hòa hợp với đồng sự.

Cung điền trạch phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Cha mẹ là người sáng suốt, có lí lẽ, hiền hòa, không so đo tính toán với người khác, sinh hoạt gia đình vui vẻ, rất quan tâm chăm lo cho mệnh tạo.

(4) Cung điền trạch phi Hóa Kị:

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung mệnh:

Tính tình bảo thủ, quản lí tài chính theo nguyên tắc của mình, bản thân tiết kiệm, cũng không thích chiếm tiện nghi của người khác.

Tuy không muốn nhưng thường phải bôn ba ở bên ngoài.

Lần đầu mua nhà dễ bị thua thiệt.

Có thể giao du với bạn bè khác giới lâu dài, đối tượng đào hơn thường là người đã li hôn nhung không có con.

Tiền bạc thường có hiện tượng hao hụt, tổn thất, không giữ được.

Cung điền trạch phi Hóa KỊ nhập cung huynh đệ:

Không nên qua lại tiền bạc với anh chị em hay bạn bè, dễ bị tổn thất, phiền phức, rắc rối.

Sinh kế gia đình thường bị tình trạng thu không bằng chi.

Tiền bạc thường bị tổn thất.

Đến đại hạn thứ hai, thường sẽ xa quê hương để tìm hướng phát triển.

Cung điền trạch phi Hóa KỊ nhập cung phu thê:

Đầu tư sáng lập cơ nghiệp làm ăn, vận kinh doanh không thuận lợi, dễ bị lỗ vốn; tốt nhất là nên đi làm hưởng lương.

Rất có duyên với người khác giới, nhiều đào hoa, dễ có tình huống sống chung như vợ chồng, hôn nhân không có danh phận.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung tử nữ:

Gia vận không được tốt, lúc còn nhỏ cuộc sống không ổn định, thích chạy rong bên ngoài, gia đình thiếu quan tâm mệnh tạo.

Thích tiêu xài tiền, cầm tiền trong nhà ra ngoài tiêu xài, không có ý định mua nhà cửa. Sẽ thường dời nhà.

Rất quan tâm chăm sóc con cái, nhưng có khả năng là mạng không con cái.

Không nên làm chủ.

Thường hay giao tế thù tạc ở nơi phong hoa tuyết nguyệt; khó có hôn nhân, nhưng nhiều đào hoa, dễ có tình trạng sống chung như vợ chồng, nếu kết hôn “người ấy” sẽ mang con đến!

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung tài bạch:

Tài vận không tốt, trong nhà thường túng thiếu tiền bạc, sống cảnh nghèo túng.

Nên đi làm hưởng lương; không thích hợp đầu tư sáng lập cơ nghiệp, thường bị hụt vốn, sẽ mang nhà ra thế chấp để vay tiền hoặcbán nhà để xoay sở.

Tiền bạc thường bị thiếu hụt, tổn thất.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung tật ách:

Sẽ rời xa cố hương, định cư ở tha hương.

Dễ bị thương tật vì nạn tai bất ngờ.

Trong gia đình xảy ra nhiều chuyện thị phi rắc rối, có thể sẽ không ờ chung với cha mẹ.

Nữ mệnh có thể bị kẻ xấu xâm phạm, khiến thân tâm bị tổn thương.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

Thường hay dời nhà, sẽ rời xa cố hương, định cư ở tha hương để mưu sinh; ở bên ngoài dễ có tai ách, nên lưu ý phòng sự cố giao thông.

Xem trọng quan niệm gia đình, nhưng duyên phận bạc với dòng họ bà con.

Không có duyên với bất động sản; mua nhà lần đầu bị thiếutiền.

Khó kết hôn, giao du với bạn bè khác giới không được lâu, năng lực tính dục kém, có thể không có con cái.

Tài vận không tốt, tiền bạc dễ bị hao tốn, tổn thất.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung nô bộc:

Không hòa hợp với bạn bè, ít bạn bè mà nhiều phiền phức, dễ vì bạn bè mà tổn thất tiền bạc.

Lớn lên anh chị em đều ở riêng.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Công việc hay sự nghiệp đều không thuận lợi, sáng lập cơ nghiệp sẽ bị thiếu vốn, người nhà sẽ chi viện, nhưng dễ vì thua lỗ mà sinh phiền phức, rắc rối.

Nếu mua nhà, không nên lấy danh nghĩa của người phối ngẫu để đăng kí.

Người phối ngẫu có mối quan hệ xa cách với gia đình của mệnh tạo.

Cung điên trạch tự Hóa Kị:

Sinh ra trong gia đình bận rộn lo chuyện sinh kế, lúc còn nhỏ gia giáo không nghiêm, duyên phận bạc với dòng họ bà con.

Nhà ở lộn xộn mà nhỏ, thường thay đổi nơi cư trú; tự mua nhà rất khó khăn.

Không có quan niệm quàn lí tài chính, rất lãng phí, không biết tiết chế, thường tiêu xài hết tiền.

Không muốn mấy chuyện lập gia đình, có kết hôn hay không, cũng chẳng quan trọng.

Rất có duyên với người khác giới, dễ có đào hoa nhung không giữ lại.

Có thể làm nghề mua bán bất động sản.

Lần đầu mua nhà dễ xảy ra vấn đề, trước năm 35 tuổi không nên mua nhà.

Không quen ở nhà, thường bôn ba ở bên ngoài, dễ vì tai nạn bất ngờ mà phá tài, cũng phải phòng tù tội.

Sau kết hôn vẫn dễ có tình nhân ở bên ngoài, đối tượng là người độc thân đã li hôn. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung điền trạch phỉ Hóa Kị nhập cung phúc đức:

Tài Vận không tốt, thu nhập không ổn định, trong nhà thường không có tiền, cuộc sống không ổn định, không có phước để hưởng.

Đầu tư làm ăn, vận kinh doanh không được tốt, sẽ lỗ vốn; nên đi làm hưởng lương.

Thường hay lãng phí tiền bạc, hoặc dễ bị tổn thất tiền bạc; khó mua nhà; có nhà cũng sẽ thế chấp để vay tiền, nhưng nợ khó trả.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu:

Thường bôn ba, bốn phương là nhà.

Gia vận không thuận lợi, dễ phá tài, bán bất động sản mà tiền khó giữ được.

Sẽ ở chung với cha mẹ.

Dễ bị phá tướng vì tổn thương bất ngờ.

HÓA DIỆU LUẬN

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

Hóa diệu trong Tử Vi Đẩu Số, là các sao biến hóa then chốt liên thông các tinh bàn (Thiên bàn và Nhân bàn), nhất là Lưu niên và Đại vận, có các “Lưu hóa diệu” giao hội hỗ tương với hóa diệu của nguyên cục, khiến cho tính chất của tinh hệ hữu quan biến thành phức tạp, cũng chính nhờ như vậy mới luận đoán được cảnh ngộ của đời người khá cụ thể.
Hóa Lộc thông thường có ý nghĩa là “tài lộc”; Hóa Quyền thông thường có ý nghĩa là “quyền thế”; Hóa Khoa thông thường có ý nghĩa là “danh tiếng”; Hóa Kị thông thường có ý nghĩa là “trở ngại”. Nhưng mỗi một tinh diệu biến hóa vẫn có ý nghĩa đặc biệt của nó, những ý nghĩa đặc biệt này thường thường là căn cứ để luận đoán.

Lúc luận đoán mệnh cục, chỉ có Tứ hóa của năm sinh, nên khá đơn giản, dễ quan sát. Luận đoán những điểm quan trọng, chỉ cần xem bản thân các sao Tứ hóa có hội hợp hay không? hội hợp ở cung độ nào? thì có thể biết được đại thể.
Lúc luận đoán Đại hạn, chỉ có Tứ hóa của Đại hạn và Tứ hóa của năm sinh, cũng chưa phức tạp mấy, xem các sao hội hợp với chúng cũng không đến mức hoa mắt.
Nhưng khi luận đoán Lưu niên, tổng cộng có 3 nhóm Tứ hóa, có thể cung độ nào cũng có hóa diệu hội chiếu hoặc đồng độ, thường khiến cho người nghiên cứu Đẩu Số hoa cả mắt.
Thực ra, thông thường chỉ cần xem hai nhóm hóa diệu của Đại hạn và Lưu niên; lúc nào tứ hóa của năm sinh bị xung khởi mới cần chú ý, không xung khởi thì tác dụng rất nhỏ.
Tứ hóa của năm sinh cấu tạo thành bản chất thuộc các cung viên, còn Tứ hóa của Đại vận và Lưu niên là hình thành hoàn cảnh của các thời kỳ trong cuộc đời. Do đó tứ hóa năm sinh có ảnh hưởng không lớn đối với hoàn cảnh của các thời kỳ. Điểm này bạn đọc cần hiểu rõ cái lý của nó.
Chỉ khi nào Tứ hóa của năm sinh bị tứ hóa của Đại vận xung hội, hoặc tứ hóa của Lưu niên xung hội, thì tứ hóa của năm sinh mới có tác dụng.
Dưới đây xin đề cử vài ví dụ cụ thể để thuyết minh:
Nếu “Thái dương Thái âm” thủ mệnh tại cung Mùi, người sinh năm Canh thì Thái dương hóa Lộc. Đến Đại hạn Ất Dậu, cung mệnh của Đại hạn là “Thiên cơ Cự môn” mà Thiên cơ hóa Lộc, hội hợp với “Thái dương Thái âm” (mượn sao cung Mùi an cung Sửu) mà Thái âm hóa Kị.
Lúc này, Thiên cơ hóa Lộc xung khởi Thái dương hóa Lộc, càng khiến cho Thiên cơ hóa Lộc có sắc thái “vì phục vụ mọi người mà được lợi ích”. Thêm vào Thái âm hóa Kị, là bất lợi về kinh doanh riêng, cho nên lúc này chỉ có thể làm việc cho công ty để kiếm tiền, cá nhân thì không nên đầu tư.
Hóa Lộc ở nguyên cục lại hóa Kị ở Đại vận hoặc Lưu niên, ý là “sao hóa Lộc biến thành sao hóa Kị” (thí dụ như Vũ khúc hóa Lộc của nguyên cục biến thành hóa Kị), cho nên có thể vì tiền mà chuốc họa, hoặc sức kiếm tiền ban đầu giảm nhiều.
Hóa Kị ở nguyên cục, lại Hóa Lộc ở Đại vận hoặc Lưu niên, ý là “sao hóa Kị của nguyên cục biến thành sao hóa Lộc” (ví dụ như Cự môn hóa Kị của nguyên cục biến thành hóa Lộc của Đại vận hay Lưu niên). Cho nên, nhân tố bất lợi ban đầu, vào hạn này có thể nhuyễn hóa thành nhân tố có lợi, nhờ đó mà được tài phú.
Hai ví dụ trên cho thấy sự biến hóa thay đổi có ý nghĩa khi hóa diệu giao hội.

Hóa Lộc luận

Hóa Lộc thuộc âm thổ, cai quản tài lộc. Cho nên ưa có Lộc Tồn tương hội, gọi là “Lộc trùng điệp”; lai ưa gặp “Lộc tồn Thiên mã” gọi là cách “Lộc Mã giao trì”.
Hóa Lộc không ưa đến 4 cung Tí Ngọ Mão Dậu, nhất là cung Mão, rất ưa đến các cung Dần, Thân, Hợi, cũng ưa cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Lộc Tồn không đến các cung Tứ mộ, nên ưa Hóa Lộc bổ túc, cần phải có sao Lộc xung khởi mới phát huy được.
Ý nghĩa của Hóa Lộc, thông thường là chỉ “nguồn tiền tài”, tức là tính chất và năng lực kiếm tiền, cũng chỉ “cơ hội kiếm tiền”.
Trong các tình hình thông thường, không ưa Địa không, Địa kiếp cùng bay đến (bốn cung Tí Ngọ Mão Dậu). Cổ nhân nói “Lộc mà đến cung nhược thì phát mà không chủ về tài”, tức là chỉ được hư danh mà không có lợi lộc thực tế.
Hóa Lộc rất ngại gặp Hóa Kị xung phá, cổ nhân nói: “Lộc gặp xung phá, là trong cái tốt có chứa điềm hung”. Trong các tình hình thông thường, chủ về tình hình vì kiếm tiền mà sinh tai họa. Ví dụ như vì cầu tài mà xảy ra bất chắc, đầu tư lớn mà không có thu hoạch, dẫn đến không còn vốn để tiếp tục đầu tư. Những trường hợp này, cần phải xem tổ hợp Sao thực tế mà định tính chất.
Hóa Lộc tượng hội với Hóa Quyền và Hóa Khoa, thông thường là kết cấu rất tốt, được gọi là “Tam kỳ gia hội cách”, nhưng vẫn cần xem xét tính chất của các Sao bay đến để định nặng nhẹ.
Như cung mệnh “Liêm trinh Thiên tướng”, mà Liêm trinh hóa Lộc, có Phá quân hóa Quyền vây chiếu, hội hợp với Vũ khúc hóa Khoa ở cung Sự nghiệp. rõ rằng là lấy Liêm trinh hóa Lộc làm chủ. Bởi vì “Liêm trinh Thiên tướng” chủ về làm việc trong chính giới, hoặc trong công ty có tính phục vụ, bản chất của cung mệnh này, Phá quân hóa Quyền chỉ làm tăng quyền bính về kinh tế, Hóa Quyền Hóa Khoa chỉ trợ giúp cho tình hình cát lợi của cung mệnh, không thể tính là chủ thể.

Hóa Quyền luận


Hóa Quyền thuộc dương mộc, nên phải đề phòng “cây to thì hứng gió”. Cũng chính vì vậy, Đẩu Số ưa “Lộc trùng điệp” mà không ưa “Quyền trùng điệp”, lúc hóa Quyền gặp hóa Quyền trùng điệp, sẽ dễ chuốc lực áp chế vào “Thân” (ví như Thân bị trói buộc không thực thi được những ý tưởng của Mệnh tạo).
Nếu Hóa Quyền mà không có Hóa Lộc và Hóa Khoa sánh vai, chủ về dễ bị khuynh đảo, bài xích, chèn ép; nếu lại gặp sát tinh, nhất định sẽ xảy ra nhiều tình huống khó xử.
Hóa Quyền được Hóa Lộc sánh vai, chủ về nhờ quyền lực mà đắc lộc, hoặc nhờ “lộc” mà đắc “quyền”, nhưng đừng vì thấy “Lộc Quyền gặp nhau” mà xem thường bản chất của Hóa Quyền.
Cổ nhân hay nhấn mạnh Hóa Quyền không sợ Hóa Kị, ý nói lúc Hóa Kị đến xâm phạm, Hóa Quyền dư sức áp chế. Nhưng theo phái Trung châu Vương Đình chi thì có khác, họ cho rằng ý kiến này hơi phiến diện.
Ví dụ như tinh diệu hóa Quyền ở nguyên cục lại bị Hóa Kị ở vận hạn tương xung, tức là “cây lớn thì hứng gió”, “địa vị cao thì thế nguy”, nhất là lúc “Quyền trùng điệp”, bị sao Kị xung phá, chủ về tranh giành quyền lực, nhất là khi nắm được đại quyền, sẽ dễ phạm lỗi lộng quyền.
Nếu Hóa Kị ở nguyên cục hóa làm sao quyền ở vận hạn, thì phải đề phòng lực áp chế, không phải là hỉ sự. Cần phải xem xét kỹ tính chất phối hợp của toàn cục mà định.

Hóa Khoa luận


Hóa Khoa thuộc dương thủy, chủ về “trí”, “lưu truyền”, nên là “tiếng tăm, danh dự”.
Các sách Đẩu Số thông thường cho rằng Hóa Khoa không nên gặp Hóa Kị. Ở thời cổ đại, hóa Khoa chủ về khoa cử công danh, sĩ tử cần phải xuất thân từ khoa cử thì mới dễ hiển đạt, cho nên không ưa Hóa Kị xung hội Hóa Khoa.
Ở thời hiện đại, không còn chuyên về khoa cử mới công danh hiển quý, cho nên lúc hóa Khoa và hóa Kị xung hội, thường thường chủ về nổi tiếng mà chuốc đố kị, có lúc lại chủ về nhiều người biết tiếng. Vương Đình Chi kể, ông từng đoán mệnh cho một vị luật sư, Cự môn hóa Kị ở cung mệnh, bị Thiên cơ hóa Khoa xung hội, vị luật sư nổi tiếng do tài ăn nói và cơ trí ứng biến lúc biện hộ cho thân chủ.
Nhưng thông thường, Khoa Kị tương xung dễ bị nói xấu, chê bai, dị nghị, phỉ báng, cần phải xem bản chất các sao mà định tốt hay xấu. Nếu Thái dương của cung mệnh nguyên cục Hóa Khoa, lại nhập miếu, chủ về người này ắt sẽ có danh tiếng lớn, đến Đại hạn hoặc Lưu niên không thích gặp Thái dương hóa Kị, chủ về vì có danh tiếng lớn mà chuốc điều tiếng thị phi.
Nếu gặp Thiên đồng hóa Kị, thì vì tiếng tăm mà hay gặp phiền phức và bận rộn, nên ít hưởng thụ, dễ sinh bệnh mà thôi.
Phái Trung châu có một bí truyền về Hóa Khoa, như sau:
Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh ban ngày, đến cung hạn Thái dương nhập miếu được cát hóa, bất kể là Lưu niên hay Đại hạn, đều chủ về có thanh danh lớn. Nếu đến cung hạn có Thái dương lạc hãm, lại gặp các sao Sát Kị, thì thanh danh bị tổn thương. Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh vào ban đêm, đến cung hạn Thái âm nhập miếu được cát hóa, cũng chủ về có danh tiếng lớn. Nếu đến cung hạn có Thái âm lạc hãm, mà gặp các sao Sát Kị, thì chủ về thanh danh bị tổn thương.
Thông thường, hai trường hợp trên, có thể xem các sao hội hợp thực tế mà định chi tiết.
Hóa Khoa thủ cung mệnh, ở cung độ lục hợp, gặp Hóa Lộc (ví dụ như hóa Khoa ở cung Tí, hóa Lộc ở cung Sửu), gọi là “Khoa minh Lộc ám”, chủ về nhờ khoa cử công danh, có tiếng tăm mà được quan lộc, hoặc được nâng cao địa vị xã hội. Đây là nhờ danh mà đắc lợi. (có thể so sánh với cách “minh lộc ám lộc”, Lộc tồn và hóa Lộc ở cung lục hợp, cũng chủ về quý hiển, đây là nhờ phú mà được quý, khác với cách “khoa minh lộc ám” là nhờ danh mà được quý).
Hóa Khoa không ưa đồng cung với Địa không Địa kiếp, chủ về khuynh gia bại sản, chỉ có hư danh, hoặc có danh vọng trong phạm vi cực nhỏ, cũng chủ về nghiên cứu triết học tôn giáo.
Hóa Khoa đồng độ với Lộc tồn, mà rơi vào cung có Địa không, Địa kiếp, nhất định sẽ bị Kình dương và Đà la giáp cung, vì vậy tuy tốt nhưng không có danh vọng. Đây gọi là “mạ không trổ bông, sao Khoa hãm ở cung hung”. Cho nên, các sao hóa thành sao Khoa, mà danh vọng chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ là do nguyên cớ này, lúc luận đoán phải chú ý.

Hóa Kị luận


Hóa Kị thuộc dương thủy, giống Hóa Khoa, vì lời khen và lời nói xấu có cùng một dạng năng lực là quảng bá.
Hóa Kị chủ về sóng gió, trắc trở, tổn thất, thị phi, đố kị; xem các sao hội hợp thực tế mà định tình hình cụ thể.
Hóa Kị ở các cung, phần nhiều đều là hãm địa. Như các cung Dần, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là lạc hãm, chỉ có cung Sửu là nhập miếu.
Nhưng Thái dương và Thái âm của nguyên cục nhập miếu mà hóa Kị, thì lại chủ về cát lợi, giống như “mây trôi che nhật nguyệt”, bất quá chỉ bị lu mờ một chút mà thôi. Thái âm hóa Kị ở cung Hợi, Thái dương hóa Kị ở cung Mão, theo phái Trung châu gọi là “biến cảnh”, càng chói mắt người ta, nhưng Thái dương không bằng Thái âm.
Thái dương Thái âm ở hãm địa hóa Kị thì không cát tường, làm mạnh thêm sắc thái thị phi tổn thất.
Các sao có tính chất tinh thần ở cung mệnh mà hóa Kị, cũng chủ về đầu óc trầm tĩnh, lạnh lùng. Thiên đồng hóa Kị ở cung Tuất, Cự môn hóa Kị ở cung Thìn, đều có cách “phản bối” (trở mặt).
Vì vậy không được luận đoán đại khái, hễ gặp hóa Kị lập tức cho là Hung. Mệnh cục gặp hóa Kị phải biết xem trọng sự tu dưỡng tinh thần.
Tử vi Đẩu Số luận đoán Lưu niên vận thế, điều then chốt nhất là giỏi vận dụng hóa diệu.
Như đã biết, thông thường hóa Lộc chủ về kiếm được tiền, hóa Quyền chủ về được thế, hóa Khoa chủ về danh dự địa vị, hóa Kị chủ về bị các tình huống khó xử. Người đời không thể thập toàn thập mỹ, cho nên ngoài vị thế, lợi lộc, danh tiếng ra, ắt phải có sao Kị để điểm xuyết hương vị cuộc đời. Người có kiến giải thông đạt, trong lòng sẽ không buồn phiền khi gặp Hóa Kị.
Tình hình gặp Hóa Kị ở rất nhiều loại, tình hình thường gặp nhất là “chuốc đố kị”, nhưng “không chuốc đố kị thì phần nhiều là người tầm thường”, cho nên gặp Hóa Kị cũng đừng sợ. Một tình hình khác là, xảy ra hiểu lầm không cần thiết với người khác. Hiểu lầm nhau, có lúc chưa chắc là không tốt, nếu người hiểu lầm quá xấu, thì dù có hiểu lầm, ít đi một người bạn xấu cũng hay.
Hóa Kị dễ khiến cho người ta gặp các tình huống khó xử, bị phỉ báng, nói xấu, bêu rếu. Nhưng thị phi tốt xấu rồi cũng có ngày rõ ràng.
Có lúc Khóa Kị chủ về buồn rầu lo lắng. Như cung Phụ Mẫu hóa Kị, thì có thể phải lo lắng cho sức khỏe của cha mẹ, sinh lão bệnh tử là quá trình tất nhiên của đời người, nên trong tình huống này, nên có kiến giải thông đạt một chút.
Hóa Kị cũng chủ về mắc bệnh, tuy nói là phải có kiến giải thông đạt, nhưng rốt cuộc cũng khiến cho người ta đau khổ, vì vậy trước khi sự việc xảy ra, chúng ta nên gìn giữ sức khỏe là hay nhất.
Tình hình nghiêm trọng nhất của hóa Kị là phạm pháp, hoặc bị tai họa tới tấp, nhiều khi nhìn thấy tinh hệ này, người ta thường lo láng cho tương lai. Nhưng giả dụ như biết trước được vận thế, cũng không cần phải quá bất an. nhà Phật cho rằng nghiệp lực có thể nhuyễn hóa, trọng nghiệp vẫn có thể có quả báo nhẹ, chỉ cần giữ cho lòng trung hậu, lấy lòng thành để đối đãi với người, lập thân hành sự không hổ thẹn với lòng, thì có thể xoay chuyển được vận thế.
Cho nên, gặp Hóa Kị, phải xem xét cẩn thận tính chất của hóa Kị, và phải xem trọng tu dưỡng tinh thần, giả dụ như có tính tình phóng túng, lại thường bất chấp mọi người nghĩ gì, mà không nghĩ đến việc tu dưỡng để bổ cứu, lúc những trắc trở ập đến, không được nói là “do số mệnh”.

Cung mệnh phi hóa

0

(Tuvivietnam – Siêu Tầm)

(1)       Cung mệnh phi Hóa Lộc:

Cung mệnh tự Hóa Lộc:

Tự hóa, tức là can của bán cung khiến cho sao trong bản cung xảy ra hiện tượng tứ hóa. Phàm người cung mệnh có tự hóa, hầu hết không thế chịu được thử thách, hành sự chỉ nóng được có năm phút, hay tha thứ cho mình, luôn tim ra được một cái cớ để thoái thác. Cung mệnh tự Hóa Lộc là người có khẩu tài, nói chuyện có kĩ thuật, trắng đen gì nói cũng có lí, biết cách ứng phó, không bao giờ xúc phạm hay làm người khác phiền lòng; lịch sự và nhã nhặn, có chừng mực, có duyên với người chung quanh, không thô tục; có khiếu thường thức nghệ thuật, thông minh lanh lợi, khá đa tình, dễ bị cảm động, dễ khóc; y thực không thiếu, tiêu xài tiền rất nhanh, làm việc không chuyên tâm, thường hay quên những điều mình hứa hẹn với người khác. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

 

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ:

Tình cảm với anh chị em khá tốt, có thể nhờ anh em giúp đỡ mà thành công, giao tế nhiều, có duyên với người chung quanh; đối với mọi người rất nhiệt tình, nhưng sẽ không nỗ lực vì người ta; cho người ta lợi ích nhưng không cầu báo đáp, rộng lượng và hào phóng; hướng ngoại, có nhiều cơ hội kiếm tiền, muốn làm ăn ở nơi đông đúc, thích hợp với những nghề nghiệp như nghệ thuật biểu diễn, ngành giải trí; sinh kế gia đình sung túc, cũng dễ bị người ta giật tiền, bể hụi.

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê:

Phối ngẫu là người thông minh, có trợ giúp cho sự nghiệp của mệnh tạo, sau kết hôn sự nghiệp của mệnh tạo khá thuận lợi; mệnh tạo trưởng thành sớm, rất duyên với người khác, nên cũng dê kết hôn sớm, có tình thâm với người phối ngẫu; mệnh tạo rất códuyên với người chung quanh. Nếu chuyển phi Hóa Kị nhập cung phúc đức, là muốn kết hôn nhưng không được thuận lợi hoặc hôn nhàn không thành.

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ:

Nặng quan niệm gia đình, phần nhiều sau khi sinh con sẽ dễ kiếm tiền hơn; quan hệ với con cái rất tốt, rất thương yêu con cái, có thể được quý tử. Có thể mở tiệm hoặc kinh doanh bất động sản, cũng có thể hợp tác làm ăn (nhưng vẫn cần phải xem phối hợp với cung nô bộc, cung quan lộc ) dễ có đào hoa, năng lực tính dục tốt.

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch:

Thương tiền, xem trọng tiền bạc, thích hưởng thụ, tiền bạc vừa ý, dễ kiếm tiền; có thành tựu trong việc sáng lập sự nghiệp, có thể kiếm tiền trong ngành giải trí; dễ kiếm tiền, dựa vào nỗ lực của bản thân để kiếm tiền, cũng dễ có vận tiền bâ’t ngờ; xem trọng sự nghiệp, tay trắng làm nên, kinh doanh quy mô nhỏ; giỏi giao tế, chăm sóc, lo lắng cho người phối ngẫu, đa tình, xem trọng hôn nhân và tình cảm.

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung tật ách:

Lạc quan, dễ có tính lười biếng, dễ phát phì; lúc còn nhỏ có thể chất yếu, trân quý sức khỏe, tiêu xài nhiều tiền cho bản thân, thích dùng thuốc bổ, thực phẩm bổ dưỡng; hiếu động, có đầu óc, duyên với người chung quanh tốt, hiếu thảo với cha mẹ, được bậc trường bối yêu thích, đề bạt, nâng đỡ; có thể phát triển lớn sự nghiệp. Nếu chuyển phi Hóa Kị nhập tuyến “phu quan”: nữ mệnh chủ về có duyên với người khác giói; nam mệnh chủ về dựa dẫm phụ nữ, thích chuyện tính giao, đeo dính người phối ngẫu, có thể hưởng lạc thú phòng the.

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung thiên di:

Hơi lười biếng, thích đi đó đi đây, vui chơi, có duyên với người chung quanh, được nhiều quý nhẫn trợ giúp, cho tiền để người phối ngâu tiêu xài; ở bên ngoài, có mối quan hệ giao tế rộng, có nhiều cơ hội kiếm tiền, được đắc ý nhưng tiêu tốn cũng nhiều; cần

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc:

Hướng ngoại, thích giao du bạn bè, có nhiều bạn, thù tạc giao tế cũng nhiều, thường tự giới thiệu mình với người lạ; thích hợp công tác quáng cáo, thúc đẩy tiêu thụ, quan hệ công cộng, ngoại giao; có thể kiếm tiền ở nơi đông đúc, náo nhiệt, như siêu thị bách hóa, nghệ thuật biểu diễn, ngành giải trí; có thể hợp tác vói bạn bè, làm cổ đông; Bạn bè giúp đỡ nhiêu, nhưng cũng dễ vì bạn bè mà tổn thất tiền bạc; có quan hệ tốt đẹp vói ông chủ và đồng sự; rất quan tâm sức khỏe của người phối ngẫu, đeo dính người phối ngẫu.

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc:

Nặng lòng vì sự nghiệp, nhưng không nhất thiết là có trách nhiệm với công việc, không cam tâm chỉ làm viên chức nhỏ; thường thay đổi công việc, có thể có thành tựu, được vui vẻ ở nơi làm việc; có hứng thú với nhiều lãnh vực, làm việc không chuyên nhất; đi làm có công việc vừa ý, lương cao, thăng tiến nhanh; tay trắng làm nên, nên kinh doanh quy mô nhỏ; lúc còn đi học, có thành tích tốt; rất chăm sóc người phối ngẫu.

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch:

Có thể có tổ nghiệp, chăm lo cho gia đình, cũng làm tiêu hao gia sản, tốn tiền vì nhà cửa, như mua tậu nhà, trang hoàng… Sau khi mệnh tạo sinh ra, gia vận chuyển biến theo hướng tốt, ở nhà lớn và sang trọng; sinh hoạt gia đình hạnh phúc, có tiền; thích hợp kinh doanh bâ’t động sản; dễ có đào hoa, lập gia đình khá sớm.

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức:

Được hưởng phước, xem trọng hưởng thụ, thích hưởng thụ những thứ thuộc loại cao cấp, không thích lao động vất vả, thích động não, có khẩu phúc, ưa ăn mà lười làm; có nhiều cơ hội kiếm tiền, dễ kiếm tiền, nhưng không nhất định là có tiền nhiều; rộng lượng, sẽ bồi dưỡng thị hiếu, sẽ tiêu tiền vì thị hiếu, có hứng thú với nhiều lãnh vực nhung không chuyên nhất; quan tâm lo lắng cho sự nghiệp của người phối ngẫu, hưởng thụ niềm hạnh phúc trong hôn

Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu:

Hiếu thảo với cha mẹ, sống chung vui vẻ với cha mẹ, được trưởng bối yêu thích, đề bạt, nâng đỡ; có cách cục làm doanh nhân, công chức, thăng tiến nhanh; vận thi cử tốt, thành tích tốt.

(2)Cung mệnh phi Hóa Quyền:

Cung mệnh tự Hóa Quyền:

Trong ngoài phân biệt rất rõ ràng, vì bản thân hoặc để bào vệ bàn thân; cá tính mạnh, thích nắm quyền, thông minh tài cán, người có thể làm được nhiều việc; không tín nhiệm người khác, chuyên quyền, sợ quyền lực rơi vào tay người khác; thông minh, tài cán, phán ứng mẫn tiệp, tư tường ngoan cố, bướng binh, ra oai, phách lối, tranh cường hiếu thắng, thường tự cho mình là đúng, nên dê xảy ra phiền phức; thích lãnh đạo người khác, làm việc thường vượt quá giới hạn của mình, hay nhúng tay vào chuyện người khác; có quyền nhưng không có thực chất, có cấp dưới nhung không ra lệnh được, hoặc những người dưới quyền chỉ là lâm thời, ưa tạo sự chú ý, có lúc khoa trương quá sự thật. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ:

Thích can thiệp vào chuyện của anh chị em, có nhiều ý kiến, dễ xảy ra tranh chấp, tranh cãi, tranh quyền, nhưng giữa anh chị em vẫn còn có chỗ để bàn bạc; đối với bạn bè thường có thái độ làm cao, ra oai, phách lối, quan hệ xã giao rất nhỏ hẹp; nếu giao quyền lực cho anh chị em, bản thân sẽ không có lợi; tình hình chi tiêu trong gia đình ổn định sung túc, có quyền quyết định. Lúc hành hạn, lưu niên đến, sự nghiệp sẽ có thành tựu, ổn định, có cơ hội mở rộng.

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung phu thê:

Thích quản thúc phối ngẫu, nhưng cũng nghe lời người phối ngâu; giao quyền cho người phối ngẫu, bản thân vẫn có quyền, nhưng giữa vợ chồng dễ xảy ra tranh chấp; dễ có tình yêu theo kiểu tiểng sét ái tình, mới gặp đã yêu; cũng có thể vì gia đình hoặc nhân

tố khííc mà phái kết hôn, hôn nhân hơi bị ép buộc; nếu là nam mệnh, chù về có tính gin trưởng, nếu là nữ mệnh, thì tính cách mạnh mẽ, hai người có nhiều ý kiến bất đồng, sẽ tranh giành quyền chủ đạo irong cuộc sống hôn nhân; làm việc rất siêng năng chăm chi, có thể tự lập sự nghiệp, sự nghiệp sáng sủa, thăng tiến và có lợi.

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung tử nữ:

Ở nhà thích ra oai, phách lối, dạy dỗ con cái nghiêm khắc, kiểu áp lực nặng, thậm chí còn dùng võ lực để giải quyết; có nhiều con, con cái có tài, cá tính mạnh, sẽ có tiến bộ, phát huy; lúc được phân chia gia sản mệnh tạo hơi so bì, sẽ có nhiều bất động sản; lúc họp tác làm ăn với người khác, mệnh tạo là cổ đông lớn, nhưng không nhất định bản thân sẽ ra mặt nắm quyền; sẽ có đào hoa, dễ vì đào hoa mà chuốc phiền phức, nhất là lúc chia tay.

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch:

Cách quản lí tài chính khá linh hoạt không thích giữ tiền khư khư, mà mang tất cả tiền bạc ra xoay chuyển đầu tư, làm ăn, thích công việc có tính đầu cơ, thậm chí là cho vay nặng lãi; sẽ tay trắng làm nên, nếu đi làm hưởng lương có thể được nắm quyền tài vụ; thích hưởng thụ xa hoa, lúc xử sự với người khác, mệnh tạo rất xem trọng thể diện, ưa tạo sự chú ý; mệnh tạo là người chủ đạo trong quan hệ giữa vợ chồng, sẽ là người bảo vệ hôn nhân của hai người.

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung tật ách:

Hiếu động, nghịch ngợm, cá tính mạnh, dễ xung đột với người khác, cũng dễ xảy ra hành vi đánh nhau; cơ thể tráng kiện, khá vất vả, dễ bị thương vì té ngã; dễ nổi giận, không thích nghe lời của bậc trưởng bối, hay cãi lại, nhưng hiếu thảo với cha mẹ; sẽ có sự nghiệp của riêng minh, nếu đi làm hưởng lương sẽ nắm quyền; tính dục mạnh, nhiều đào hoa.

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung thiên di:

Ở bên ngoài, mệnh tạo rất thích biểu hiện tài năng, rất thích ngồi ở địa vị lãnh đạo, rất thích được người ta kính trọng, cũng được người ta khẳng định, nhưng có lúc không được thực tế; thường haycạnh tranh với người khác, tranh cường hiếu thắng; để tạo sự chú ý hoặc để phô trương thể diện, mệnh tạo sẽ có hành vi phóng đại năng lực của mình quá sự thật; có thể đạt được mục đích, nhung cũng dễ bị tiểu nhân xúi giục hoặc ngầm hại; bản thân xúc phạm hay làm phiền lòng người khác mà không biết; khá chủ động trong hôn nhân và tình cảm.

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc:

Không tùy tiện giao du bạn bè, mà rất chọn lựa, tiêu chuẩn hơi cao, nhung đã giao du thì rất trung thành, không bao giờ bán đứng bạn bè; thích lãnh đạo người khác, sẽ được bạn bè hỗ trợ, thích hợp kiếm tiền ở những nởi náo nhiệt, như nghệ thuật biểu diễn.

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc:

Có năng lực, phản ứng nhạy bén, có thể dựa vào tài năng và kĩ thuật chuyên môn của mình để mưu cầu lợi ích, dễ thành công; có tinh thần trách nhiệm, có năng lực lãnh đạo, mạng làm chủ, có thực quyền, sáng lập được cơ nghiệp, dễ được thăng tiến, ở trường có thành tích học tập tốt; sẽ quản thúc phối ngẫu.

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch:

Ở nhà nắm quyền chủ đạo, thích ra oai, hơi phách lối, đối với người nhà thường hay có ý kiến, dễ có hành động khinh suất, nhưng rất đoàn kết, lo liệu cho nhau, dạy dỗ con cái nghiêm khắc, thông thường là “xếp” trong nhà, tính dục khá mạnh; nên làm nghề đầu tư bất động sản, nhất định sẽ có bất động sản, nhà ở lớn mà sang trọng.

Cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức:

Có tài học, sẽ có thành tựu, có thể là kĩ sư, thợ kĩ thuật chuyên môn; giỏi quản lí tài chính, chú trọng hưởng thụ, hưởng thụ có phong cách, xa hoa, rất xem trọng thể diện, thích phô trương; nên chú ý sức khỏe, dễ mắc bệnh, phải dùng thuốc mạnh; can thiệp vào sự nghiệp của vợ (hoặc chồng).

Cung mệnh phi Hóa Quyên nhập cung phụ mẫu:

Hiếu thảo nhưng ưa cãi lí với cha mẹ, dễ xảy ra tranh chấpvới trường bối; sức khỏe không được tốt, thể chất kém, cơ thể nhiều nạn tai, dễ bị ngoại thương; thi cử có thành tích tốt; dễ bỏ nghề nghiệp chính, làm nghề khác.

(3)       Cung mệnh phi Hóa Khoa:

Cung mệnh tự Hóa Khoa:

Có trí tuệ, thông minh, hiền hòa, không tính toán so đo; cử chỉ có phong độ, nói năng nhã nhặn, lịch sự, nghiêm trang, phần nhiều là người hướng nội, có thanh danh; hơi khoe khoang, tự quảng cáo, tuyên dương ưu điểm của mình; nếu bản thân có thành tựu ba phần, họ sẽ làm cho người khác cảm thấy mười phần (ngụy ữang, giấu sớ đoản). (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ:

Anh chị em thông minh, có tài; ít anh em, mệnh tạo là quý nhân của anh em, hay giúp đõ anh em; đi làm công ti không lớn, nhưng phát triển tốt, thu nhập bình ổn, chi tiêu gia đình có kế hoạch, cân đối thu chi; quan tâm anh chị em, anh em hòa thuận, giao du bạn bè có học, hiền hòa.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung phu thê:

Người phối ngẫu thông minh, có danh tiếng; là người duy mĩ, yêu cái đẹp, thích thời trang; sẽ lo liệu chăm sóc người phối ngẫu, vợ chồng hòa hợp, kính nhau như khách; dễ có đào hoa tình nhân ờ bên ngoài, nhung người phối ngẫu sẽ phát hiện rất nhanh; sự nghiệp, công việc phát triển bình thuận, không có sóng gió lớn, dễ được quý nhân tương trợ.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung tử nữ:

Con cái không nhiều, xinh đẹp dễ thương, hiền hòa lễ độ và có tài năng; mệnh tạo dạy con rất dân chủ, sẽ giao lưu thông cảm, giảng đạo lí, để chúng phát triển theo hướng của chúng; nhà cửa sạch sẽ, trang nhã; duyên với người chung quanh không tệ, có duyên với người khác giới, thích giao đu với người khác giới trẻ tuổi xinh đẹp hoặc tuấn tú; tiêu xài có kế hoạch.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch:

Thu nhập bình ổn, có tiên tiêu xài bình ổn, tuy không nhiêu, nhưng cũng không thiếu, cân đối thu chi, tiền có được có thể dự kiên, như tiền lương; lúc thiếu tiền dùng thì có thể xoay sờ được, thường thường lúc quan trọng tiền mới được điều đên, phần nhiều là tiên lưang của công việc kĩ thuật chuyên môn; sẽ tiêu tiền vì tình, vì thể diện; thái độ xử sự hiền hòa lễ độ, có lí tính; đối với người phối ngẫu, người yêu sẽ tạo ra bầu không khí lãng mạn.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung tật ách:

Cơ thể cân đối, không cao to lắm, thể chất tốt, ít sinh bệnh, mắc bệnh cũng dễ chữa; có quý khí, gặp nạn tai có thể được quý nhân trợ lực; tính khí tốt, hiền hòa lễ độ, đối với cha mẹ, trưởng bối đều rất tôn kính; thích bầu không khí lãng mạn; phòng khách trong nhà sửa sang sạch sẽ, ngăn nắp, ấm cúng; mở tiệm nhỏ gọn mà đẹp, văn phòng làm việc hay công ti đều sạch sẽ nhưng không lớn; thái độ đối với đào hoa hiền hòa lễ độ, không tùy tiện.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung thiên di:

Ở bên ngoài có danh tiếng tốt, có quý nhân, dễ được người khác giúp đỡ, thái độ xử sự hiền hòa, có thể phùng hung hóa cát; thu nhập binh ổn, nhưng không nhiều lắm, có lợi nhỏ; cách xử sự trong hôn nhân, tình cảm rất lí tính.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc:

Thái độ xử sự tốt, không so đo tính toán, không cố gây sự chú ý; có thể được bạn bè tương trợ, bạn bè là quý nhân, bạn bè hiền hòa lễ độ; có sỏ’ học chuyên môn, anh chị em có tài năng, danh tiếng; quan hệ tốt với chủ, bạn bè, đồng sự, xử sự hòa hợp.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc:

Chuyên tâm học hành và làm việc, hòa hợp với bạn học, đồng sự, đồng nghiệp; Chuyên tâm học hành và làm việc, hòa hợp với bạn học, đông sự, đồng nghiệp; nên đi làm hường lương, công việc thuận lợi, nên theo làm việc trong lãnh vực văn hóa, giáo dục, nghề nghiệpcó tính phục vụ; theo con đường học vấn dễ có danh tiếng, việc học phát triển đều, thành tích bình ổn; tự sáng lập cơ nghiệp nên làm với quy mô nhỏ, không nên làm vói quy mô lớn, việc làm ăn bình thuận, không có lời to, nhưng cũng không thiếu hụt, chỉ không có trở ngại mà thôi; nêu đi làm hường lương, dễ được cấp trên trọng dụng, đềbạt, nâng đỡ; có nghĩ đến chuyện đào hoa, nhưng thông thường chỉmuốn mà thôi, không có hành động.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch:

Nhà ở không lớn nhưng đẹp và sạch sẽ, trang trí thanh nhã và ấm cúng, phong cách trí thức, thích cuộc sống có ý vị tình cảm; gia lộc đối xử với nhau hòa hợp, có gia giáo; mua tậu nhà cừa không gặp rắc rối gì, có thể mua nhà trà góp hoặc vay tiền mua nhà; gia trạch bình an, ít có tai ách; rất có duyên với người khác giới, đối xử với người khác giới lịch sự, hiền hòa lễ độ.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức:

Nguồn tiền bình thuận, ổn định; lúc hường thụ sẽ cân đối cân đối thu chi, không tiêu xài loạn xạ, sử dụng đồng tiền có kế hoạch, suy nghĩ và tính toán tỉ mỉ, làm ăn thường không bị thiếu hụt tiền, không làm lỗ vốn, tính toán cân nhắc rõ ràng; có thị hiếu thanh nhã, tốt đẹp; việc học hành cũng không tệ, có tiếng tăm, thường thường sẽ có biệu hiệu hoặc được xưng tụng; cuộc sống hôn nhân êm ấm, ít có sóng gió.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Rất quan tâm chằm sóc cha mẹ; hiếu thuận, vâng lời, không gây chuyện phiền phức, dễ được trường bối nâng đỡ; nên đi làm hường lương, dễ được đề bạt, nâng đỡ; lợi về thi cử, nhưng không nhất thiết là đứng đầu, nhưng sẽ vừa ý, không gặp trở ngại; phong thái nhã nhặn, tú lệ đoan trang, hiền hòa lễ độ, lịch sự.

(4) Cung mệnh phi Hóa Kị:

Cung mệnh tự hóa Kị:

Tính khí không ổn định, cá tính kì quái, cố chấp, không tínnhiệm người khác, nặng tâm lí nghi kị; thiếu tự tin, hành sự trù trừ, bất định, không giỏi nắm bắt cơ hội; dễ bị hoàn cảnh bên ngoài gây ành hưởng đến tâm trạng, duyên với người chung quanh hơi kém, bôn ba bên ngoài không được thuận lợi, hành hạn nhiều sóng gió trắc trờ; tính tình thằng thắn, quý trọng tình người, không chiếm lợi ích của người khác, không thích mắc nợ ân tình; bản thân vất vá mà vẫn chăm lo người khác, chuyện gì đã cho là đúng thì kiên trì chấp hành, khó thay đổi; ra ngoài dễ gặp tai họa hoặc sự cố giao thông; đời sống tình cảm không được êm ấm, vợ chồng duyên bạc. (Xin xem thêm mục liên quan trong chương 6)

Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ:

Duyên phận bạc với anh chị em, có tình nghĩa với anh chị em, nhưng anh chị em không có trợ lực trợ lực, có tiền thì đến, dễ xảy ra phiền phức, cư xừ không tốt; ít có bạn bè tri kỉ, thường xảy ra tranh chấp thị phi với người khác, tiền bạc qua lại sẽ có phiền phức; tình cảm vợ chồng khó giao lưu thông cảm, dễ xảy ra chuyện li hôn; tình trạng sức khỏe không được tốt; chi tiêu gia đình thắt chặt nhập không bằng xuất; cửa hiệu, công ti nhỏ mà lộn xộn, thiếu tổ chức, phát triển không thuận lợi.

Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê:

Là “mắc nợ” người phối ngẫu hoặc “mắc nợ” hôn nhân, nhất định sẽ có cuộc sống hôn nhân, sẽ rất yêu thương người phối ngẫu, nhưng cũng có nhiều lời than oán, vợ chồng ý kiến khó hòa hợp, không được người phối ngẫu trợ lực; nếu kết hôn sớm, khó sống với nhau đến đầu bạc, thường hay càm ràm, yêu mà rất đau khổ; không nặng tinh thần sự nghiệp, không thể làm ăn, gia đình và sự nghiệp khó lưỡng toàn; sự nghiệp không thuận lợi, thường hay thay đổi việc làm, nên đi làm hưởng lương, không muốn sáng lập cơ nghiệp; tốt nhất là nên có công việc ổn định rồi hãy kết hôn, dễ vì vấn đề tình cảm hoặc gia đình mà dẫn đến tinh trạng công việc không được thuận lợi; nặng bệnh nghi ngờ, hay ghen tuông. Nếu lại chuyển phi Hóa Lộc nhập cung mệnh, là ý tượng: vợ chồng ở riêng.

Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung tử nữ:

Duyên bạc với con cái, ít con cái, quá thương yêu và quản thúc con cái, dễ xây ra tình trạng đè nén không gian tự phát triển của con cái; bấtkể có thích ở nhà hay không, mệnh tạo cũng sẽ thường đi ra ngoài một thời gian, ở bên ngoài thời gian dài, dễ lang bạt tha hương, khó có bất động sản, lúc chưa mua được nhà phải dời chuyển chỗ ở liên tục; dễ bị tổn thất tiền bạc, hao tài, khó tích lũy; trong cuộc đời rất dễ gặp đại kiếp số; nếu hợp tác với người khác phần nhiều sẽ gặp sóng gió trắc trở, về sau hối hận; sức khỏe dễ có vấn đề, nữ mệnh dễ bị các bệnh của phụ nữ; về tình cảm với người khác giới dễ phát triển thành đào hoa chủ động theo hướng không đúng đắn, nhiều biến động. Nếu cung tử nữ lại tự Hóa Kị, khó có đào hoa.

Cung mệnh phi Hóa KỊ nhập cung tài bạch:

Kiếm tiền vất vả khổ sở, nỗ lực kiếm tiền, không đành tiêu tiền trong chuyện hưởng thụ, nhưng vẫn dễ bị thấu chi, không giữ được tiền; thái độ của mệnh tạo đối với tiền bạc có nguyên tắc riêng của mình, nhưng tính cả nể tình cảm, hoặc lúc bất đắc dĩ cũng rất hào phóng, nhưng sau khi tiêu tiền lại hối hận; lúc đầu tư cho sự nghiệp thường không đủ vốn, còn dễ bị hao hụt; thường vì tiền bạc mà chuốc thị phi, vì tiền mà hành động mạo hiểm; vợ chồng không hòa hợp, quản không được người phối ngẫu; ờ bên ngoài, thường tự gây ra thị phi.

Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung tật ách:

Lúc còn nhỏ cơ thể ốm nhỏ, sức khỏe kém, thể chất yếu, dù không mắc bệnh nặng cũng ít khi rời lọ thuốc; tình cảm mong manh, tâm trạng hóa, tâm địa tốt, không có tâm cơ; bản thân vất vả mà vẫn chăm lo người khác, thà bản thân chịu thiệt chớ không chiếm lợi ích của người khác; thuộc tầng lớp lao động, có khuynh hướng làm việc như điên, không sợ thất nghiệp; nếu sáng lập cơ nghiệp sẽ khó chống đõ, không có “tài khí”; không có duyên với cha mẹ, lúc còn nhỏ dễ gặp tai kiếp bất ngờ; sinh hoạt tình dục có độ hòa hợp kém; vận thi cử không tốt, khó thi đậu.

Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung thiên di:

Tâm chí ở bên ngoài, thường đi ra ngoài; tuy đi ra ngoài không được thuận lợi, nhưng vẫn phải đi, hơn nữa, xa quê hươngcàng xa càng tốt, thường hay bôn ba, không có quý nhân tương trợ; có thế vì người ở bên ngoài làm cho cuộc đời gặp nhiều thăng trầm bất định, làm việc nhiều mà thành tựu ít; dễ có nạn tai bất ngờ, khó có đào hoa, tình cảm không được thuận lợi. Nếu là Thủy Mệnh Kị, không nên làm nghề sàn xuất’, mở công xưởng, mà nên làm nghề buôn bán.

Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung nô bộc: ít bạn bè, bạn bè thường không lâu dài, nhiều phiền phức; mệnh tạo đối với bạn bè rất trọng tình nghĩa, quan tâm lo lắng cho bạn bè, nhưng bạn bè lại không tốt hoặc không trợ lực; không nên cho bạn bè vay mượn, dễ có đi mà không trả lại.

Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung quan lộc:

Dốc toàn bộ tinh thần vào công việc, cọ tính chuyên nghiệp, chuyện gì cũng đích thân làm; nên đi làm hưởng lương, theo nghề buôn bán sẽ không ổn định, khó sáng lập cơ nghiệp, thời gian làm việc nhiều mà thu nhập ít; là cách cục chậm kết hôn, lập nên sự nghiệp trước rồi mới lập gia đình, vì công việc mà sơ sót chuyện tình cảm; công việc không thuận lợi, nhiều sóng gió trắc trờ; hôn nhân không được hạnh phúc, dễ xảy ra chuyện li hôn; học hành vất và khổ sở, không nắm được mấu chốt sự việc, thành tích có thể đứng chót, dễ bỏ học, nghỉ học, chuyển trường.

Cung mệnh phi Hóa KỊ nhập cung điền trạch:

Biết kiếm tiền, xem tiền bạc như mạng sống, không dám tiêu xài, chỉ chi tiêu cho sinh hoạt gia đình; không thích đi xa, dựa vào cảm tính để xử lí chuyện gia đình, trong nhà thường không được yên ổn, hay cãi vả, náo loạn, không hòa hợp, thường hay xảy ra tranh chấp; không nên hợp tác làm ăn, tay trắng làm nên, không tham tổ nghiệp; lúc mua tậu nhà cừa, không đủ tiền; sẽ có đào hoa, đối tượng plìân nhiều là người đã có hôn nhân.

Cung mệnh phi Hóa KỊ nhập cung phúc đức:

Bụng dạ hẹp hòi, dễ xung động, tâm tình không cởi mở, tư tường thiên châp, tâm thần không yên ổn, hay đâm đầu vào nhữngchuyện không giải quyết được; túi tiền thường trống rỗng, kiếm không ra tiên, ít được hường thụ, không có tiền cũng phải tiêu xài, kiêm được tiền cũng không giữ được, dễ vì tâm trạng không tốt mà tiêu tiền, dễ bị mất ngủ, giống như bị chứng ưu uất; giữa vợ chồng thường xảy ra cãi vả vì chuyện tiền nong; có tính thiên chấp vào thị hiếu của mình.

Cung mệnh phi Hóa KỊ nhập cung phụ mẫu:

Duyên phận bạc với cha mẹ, giữa hai đời có sự giao lưu cảm thông, hiếu thuận, quan tâm chăm sóc cha mẹ, nhưng không cách nào sum họp lâu dài, sau khi lập gia đình sẽ không ở chung vói cha mẹ, thường phản kháng cha mẹ; tâm địa tốt, không có tâm cơ, bụng dạ thẳng thắn, mau mồm mau miệng, dễ chuốc thị phi, hay xúc phạm hoặc làm phiền lòng người khác; cơ thể suy nhược, cơ thể phần nhiều dễ bị nạn tai, dễ bị ngoại thương; nữ mệnh không hòa hợp với gia đình chồng, những ngày tháng trôi qua rất khó khăn; hay xảy ra tình trạng không hợp ý kiến với cấp trên, khó được người ta đề bạt, nâng đỡ, công việc cũng hay biến động, hoặc thích hợp với công việc phải bôn ba nhiều ở bên ngoài; vận thi cử không tốt, học hành rất vất vả, nhưng có thê vẫn đứng chót; lời nói thường hay khoa trương, cố gây sốc, không hù dọa được người ta quyết không thôi.

QUẺ HỎA THỦY VỊ TẾ

0

Lời giảng Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế theo sách “Kinh dịch – Đạo của người quân tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê

:|:|:| Hỏa Thủy Vị Tế (未濟 wèi jì)

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế, đồ hình :|:|:| còn gọi là quẻ Vị Tế (未濟 wei4 ji4), là quẻ thứ 64 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm hay Nước (水).

* Ngoại quái là ☲ (|:| 離 li2) Ly hay Hỏa (火).

Giải nghĩa: Thất dã. Thất cách. Thất bát, mất, thất bại, dở dang, chưa xong, nửa chừng. Ưu trung vọng hỷ chi tượng: tượng trong cái lo có cái mừng.

Bình luận: Kinh Dịch kết thúc bằng quẻ Vị Tế (chưa xong việc) mà trước đó lại là quẻ Ký Tế (đã xong việc). Ý nghĩa của nó là mọi sự việc tưởng chừng như đã kết thúc nhưng thực ra thì không bao giờ kết thúc. Suy rộng ra thì vạn vật trong vũ trụ cũng vậy. Sự chuyển động, thay đổi nói chung là không có đầu mà cũng chẳng có cuối.

Kí tế là qua sông rồi, cũng rồi, nhưng theo luật thiên nhiên, không có lẽ nào hết hẳn được, hết mùa này đến mùa khác, hết thời này đến thời khác, hết lớp này đến lớp khác, sinh sinh hoá hoá hoài, cứ biến dịch vô cùng, cho nên tuy xong rồi nhưng vẫn là chưa hết, chưa cùng, do đó sau quẻ Kí tế tới quẻ Vị tế: chưa qua sông, chưa xong, chưa hết.

Thoán từ

未濟: 亨.小狐汔濟, 濡其尾, 无攸利.

Vị tế: Hanh. Tiểu hồ ngật tế, nhu kì vĩ, vô du lợi.

Dịch: chưa xong, chưa cùng: được hanh thông. Con chồn nhỏ sửa soạn vượt qua sông mà đã ướt cái đuôi, không qua được, không có gì lợi cả.

Giảng: Quẻ này trái hẳn quẻ trên: lửa ở trên nước, nước và lửa không giao nhau, không giúp được nhau; cả 5 hào đều ở trái ngôi cả; dương ở vị âm, mà âm ở vị dương, cho nên gọi là vị tế: chưa xong.

Vị tế chứ không phải là bất tế, chưa qua sông được chứ không phải là không qua được, sẽ có thời qua được, lúc đó sẽ hanh thông. Thời đó là thời của hào 5, có đức nhu trung, biết thận trọng mà ở giữa quẻ Ly (thời văn minh). Vả lại tuy 5 hào đều trái ngôi, nhưng ứng viện nhau cương nhu giúp nhau mà nên việc: thêm một lẽ hanh thông nữa.

Thoán từ khuyên đừng nên như con chồn con, nóng nảy hấp tấp, mới sửa soạn qua sông mà đã làm ướt cái đuôi, không qua được nữa, không làm được việc gì lợi cả, không tiếp tục được đến cùng.

Đại tượng khuyên phải xem xét kỹ càng mà đặt người, vật vào chỗ thích đáng, thì mới nên việc, đừng đặt lửa ở trên nước chẳng hạn như quẻ này.

Hào từ

1. 初六: 濡其尾, 吝.

Sơ lục: nhu kì vĩ, lận.

Dịch: Hào 1, âm: để ướt cái đuôi, đáng ân hận.

Giảng: Âm nhu, tài kém, ở vào đầu thời Vị tế, mà lại bước chân vào chỗ hiểm (khảm), như con chồn sắp sửa qua sông mà đã làm ướt cái đuôi, không biết tính trước phải ân hận.

2. 九二: 曳其輪, 貞吉.

Cửu nhị: Duệ kì luân, trinh cát.

Dịch: Hào 2, dương: kéo lết bánh xe, giữ đạo trung chính thì tốt.

Giảng: dương cương là có tài, ở vị âm là bất chính, thấy hào 5 ở ngôi tôn, ứng với mình là âm nhu, có ý muốn lấn lướt 5, như vậy sẽ hỏng việc, cho nên hào từ khuyên nên giảm tính cương của mình đi (như kéo lết bánh xe, hãm bớt lại) và giữ đạo trung của mình (hào 2 đắc trung) thì tốt, vì hễ trung thì có thể chính được.

3. 六三: 未濟, 征凶, 利涉大川.

Lục tam: Vị tế: chinh hung, lợi thiệp đại xuyên.

Dịch: Hào 3, âm: chưa thành đâu, nếu cứ tiến hành thì bị hoạ, vượt qua sông lớn thì lợi.

Giảng: Âm nhu, vô tài, lại bất trung, bất chính, không làm nên việc đâu, nếu cứ tiến hành thì xấu. Nhưng đã cảnh cáo: tiến hành thì xấu mà sao lại bảo qua sông lớn thì lợi? Mâu thuẩn chăng? Vì vậy mà có người ngờ trước chữ lợi, thiếu chữ bất vượt qua sông lớn thì không lợi, mới phải.

Có thể giảng như vầy: xét về tài đức của 3 thì không nên tiến hành, nhưng xét về thời của 3: Ở cuối quẻ Khảm, là sắp có thoát hiểm, hơn nữa trên có hào 6 dương cương giúp cho, thì sắp có cơ hội vượt qua sông lớn được. Lúc đó sẽ có lợi.

4. 九四: 貞吉, 悔亡.震用伐鬼方, 三年. 有賞于大國.

Cửu tứ: trinh cát, hối vong. Chấn dụng phạt Quỉ Phương, tam niên. Hữu thưởng vu đại quốc.

Dịch: Hào 4, dương: giữ đạo chính thì tốt, hối hận mất đi. Phấn phát (Chấn) tinh thần, cổ vũ dũng khi mà đánh nước quỉ Phương, lâu ba năm, nhưng rồi được nước lớn thưởng cho.

Giảng: Có tài dương cương, mà ở vào thời thoát khỏi hiểm (nội quái Khảm), tiến lên cõi sáng của văn minh (ngoại quái Ly), trên có hào 5, âm , là ông vua tin vậy mình ,thì đáng lẽ tốt. Chỉ vì hào 4 này bất chính (dương ở vị âm) nên khuyên phải giữ đạo chính. Lại khuyên phải phấn phát tinh thần và kiên nhẫn mới làm được việc lớn cho xã hội, như việc đánh nước quỉ phương thời vua Cao Tôn (coi hào 3, quẻ Kí tế) ba năm mới thành công.

5. 六五: 貞,吉,无悔.君子之光有孚.吉.

Lục ngũ: trinh, cát, vô hối. Quân tử chi quang hữu phu, cát.

Dịch: Hào 5, âm: Có đức trung chính, tốt, không có lỗi. Đức văn minh của người quân tử do chí thành mà rực rỡ, tốt.

Giảng: Hào này âm ở vị dương là bất chính, nhưng vì âm nhu, đắc trung (trung còn tốt hơn chính) ở vào giữa ngoại quái Ly, là có đức văn minh rực rỡ, lại ứng với hào 2 đắc trung, dương cương ở dưới, nên hai lần được khen là tốt; lần đầu vì có đức trung, văn minh lần sau vì có lòng chí thành, hết lòng tin ở hào 2.

6. 上九: 有孚于飲酒, 无咎.濡其首, 有孚, 失是.

Thượng cữu: Hữu phu vu ẩm tửu, vô cữu

Nhu kì thủ, hữu phu, thất thị.

Dịch: Hào trên cùng, dương: tin tưởng chờ đợi như thong thả uống rượu chơi thì không lỗi, nếu quá tự tin mà chìm đắm trong rượu chè (ướt cái đầu) thì là bậy.

Giảng: Dương cương ở trên cùng quẻ là cương tới dùng cực, cũng ở cuối ngoại quái Ly là sáng đến cùng cực, đều là quá cả. Sắp hết thời Vị tế rồi, mà hào 4 và 5 đã làm được nhiều việc rồi, hào 6 này chỉ nên tự tín, lạc thiên an mệnh, vui thì uống rượu chơi mà chờ thời, như vậy không có lỗi. Nếu quá tự tín đến mức chìm đắm trong rượu chè (như con chồn ướt cái đầu), không biết tiết độ thì mất cái nghĩa, hoá bậy.

***

Kinh Dịch bắt đầu bằng hai quẻ Càn, Khôn, gốc của vạn vật; ở giữa là hai quẻ Hàm và Hằng, đạo vợ chồng, gốc của xã hội, tận cùng bằng hai quẻ Kí tế và Vị tế đã xong rồi lại chưa xong; như vậy là hàm cái nghĩa việc trời đất cũng như việc của loài người, không bao giờ xong, cái gì tớt chung rồi lại tiếp ngay tới thủy. Mà đạo Dịch cũng vậy không bao giờ hết. Dịch cho ta niềm hy vọng ở tương lai. Thật là một triết lý lạc quan.

QUẺ THỦY HỎA KÝ TẾ

0

Lời giảng Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế theo sách “Kinh dịch – Đạo của người quân tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê

|:|:|: Thủy Hỏa Ký Tế (既濟 jì jì)

Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế, đồ hình |:|:|: còn gọi là quẻ Ký Tế (既濟 ji4 ji4), là quẻ thứ 63 của Kinh Dịch.

* Nội quái là ☲ (|:| 離 li2) Ly hay Hỏa (火).

* Ngoại quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm hay Nước (水).

Giải nghĩa: Hợp dã. Hiện hợp. Gặp nhau, cùng nhau, đã xong, việc xong, hiện thực, ích lợi nhỏ. Hanh tiểu giả chi tượng: việc nhỏ thì thành.

Quá là hơn, tài đức có chỗ nào hơn người trong một việc gì đó thì làm nên việc ấy, cho nên sau quẻ Tiểu quá tởi quẻ Kí tế. Tế là vượt qua sông, là nên; kí tế là đã vượt qua, đã nên, đã thành.

Thoán từ

既濟: 亨小, 利貞.初吉, 終亂.

Kí tế: Hanh tiểu, lợi trinh. Sơ cát, chung loạn.

Dịch: đã xong: Hanh thông, nếu làm nốt các việc nhỏ, cố giữ được những việc đã thành rồi thì mới lợi. Mới đầu tốt, cuối cùng thì loạn (nát bét).

Giảng: Trong thoán từ này, hai chữ ‘Hanh tiểu”, Chu Hi ngờ là “tiểu hanh” mới đúng; tiểu hanh nghĩa là việc nhỏ, được hanh thông. Chúng tôi cho cách hiểu của Phan Bội Châu (theo Thoán truyện) là đúng hơn, nên dịch như trên.

Quẻ này trên là nước, dưới là lửa. Lửa có tính bốc lên mà ở dưới nước , nước thì chảy xuống, thế là nước với lửa giao với nhau, giúp nhau mà thành công. Cũng như nồi nước để ở trên bếp lửa, lửa bốc lên mà nước mới nóng, mới sôi được.

Lại xét sáu hào trong 1: hào dương nào cũng ở vị dương hào âm nào cũng ở vị âm; mà hào nào cũng có ứng viện: 1 dương có 4 âm ứng; 2, âm có 5 dương, ứng; 3, dương , có 6 âm ứng; đâu đó tốt đẹp cả, mọi việc xong xuôi, thế là hanh thông.

Ở vào thời Kí tế, việc lớn đã xong, còn những việc nhỏ cũng phải làm cho xong nữa, thì mới thật là hoàn thành. Hoàn thành rồi lại phải cố giữ được sự nghiệp; nếu không thì chỉ tốt lúc đầu thôi mà rốt cuộc sẽ nát bét. Nghĩa lúc trị phải lo trước tới lúc loạn.

Thoán truyện giảng mới đầu tốt vì hào 2 ở nội quái có đức nhu thuận mà đắc trung; và rốt cuộc sẽ loạn vì ngừng không tiến nữa, không đề phòng nữa (chung chỉ tắc loạn).

Đại Tượng truyện cũng căn dặn phải phòng trước lúc loạn, lúc suy.

Hào từ

1. 初九: 曳其輪, 濡其尾, 无咎.

Sơ cửu: duê kì luân, nhu kì vĩ, vô cữu.

Dịch: Hào 1, dương: kéo lết bánh xe (chậm lại), làm ướt cái đuôi thì không có lỗi.

Giảng: hào này là dương, có tài, ở trong nội quái Ly (lửa) có tính nóng nảy, lại ở đầu quẻ Kí tế, có chí cầu tiến quá hăng. Nên hào từ khuyên phải thận trọng, thủng thẳng (kéo lết bánh xe lại), chưa qua sông được đâu (như con chồn ướt cái đuôi, không lội được), như vậy mới khỏi có lỗi .

2. 六二: 婦喪其茀, 勿逐, 七日得.

Lục nhị: Phụ táng kỳ phất, vật trục, thất nhật đắc.

Dịch : Hào 2, âm: Như người đàn bà đánh mất cái màn xe, đừng đuổi theo mà lấy lại cứ đợi bảy ngày sẽ được.

Giảng: Hào này ở giữa nội quái Ly, có đức văn minh, trung chính, có thể thực hiện được chí mình. Nó ứng với hào 5 dương cương, trung chính, ở địa vị chí tốn; nhưng ở thời Kí tế, đã xong việc, nên 5 không đoái hoài tới 2, thành thử 2 như người đàn bà có xe để đi. Mà đánh mất cái màn che bốn mặt xe, không đi được. Tuy nhiên vì 2 trung chính mà đạo trung, chính không bị bỏ lâu bao giờ, nên đừng mất công theo đuổi, cứ đợi rồi tự nhiên sẽ được như ý.

3. 九三: 高宗伐鬼方三年,克之.小人勿用.

Cửu tam: Cao tôn phạt quỉ Phương tam niên, khắc chi. Tiểu nhân vật dụng.

Dịch : Hào 3, dương: Vua Cao Tôn đánh nước Quỉ Phương, ba năm mới được, đừng dùng kẻ tiểu nhân.

Giảng: Hào này là dương ở vị dương, nên quá cương cường, hoá ra khinh suất, phải thận trong như vua Cao Tôn, tức Vũ đinh (1324-1264) nhà Ân, khi đánh một rợ nhỏ là quỉ Phương mà cũng mất ba năm mới được.

Đừng dùng kẻ tiểu nhân là lời khuyên chung, chứ không phải chỉ khuyên riêng hào 3 này.

4. 六四: 繻有衣袽, 終日戒.

Lục tứ: chu hữu y như, chung nhật giới.

Dịch : Hào 4, âm: Thuyền bị nước vào, có giẻ để bít lỗ, phải răn sợ suốt ngày.

Giảng: Đã bắt đầu lên ngoại quái Khảm, nguy hiểm, phải phòng bị cẩn thận, như người ngồi chiếc thuyền bị nước vào, phải có giẻ để bít lỗ. Hào này âm nhu, ở vị âm, đắc chính, là người thận trọng biết lo sợ.

5. 九五: 東鄰殺牛, 不如西鄰之禴祭, 實受其福.

Cửu ngũ: Đông lân sát ngưu, bất như tây lân chi thược tế, thực thụ kì phúc.

Dịch: Hào 5, dương: Hàng xóm bên đông mổ bò (làm tế lễ lớn) mà thực tế không hưởng được phúc bằng hàng xóm bên tây chỉ tế lễ sơ sài.

Giảng: Hàng xóm bên đông là hào 5, bên tây là hào 2. Cả hai hào đều đắc trung, đắc chính, lòng chí thành ngang nhau; 5 ở địa vị chí tôn làm lễ lớn, nhưng được hưởng phúc thì 2 lại hơn 5, chỉ vì 2 gặp thời hơn; 2 ở vào đoạn đầu Kí tế sức tiến còn mạnh, tương lai còn nhiều; 5 ở vào gần cuối Kí tế, lại ở giữa quẻ Khảm (hiểm), tiến tới mức chót rồi, sắp nguy, thịnh cực thì phải suy.

6. 上六: 濡其首, 厲.

Thượng lục: Nhu kì thủ, lệ.

Dịch: Hào trên cùng, âm: Ướt cái đầu, nguy.

Giảng: tiểu nhân bất tài (hào này là âm) ở thời cuối cùng của Kí tê, lại ở trên hết quẻ khảm, càng nguy nữa, như một người lội qua sông, nước ngập cả đầu.

***

Kí tế vốn là một quẻ tốt, nhưng chỉ ba hào đầu là khá tốt, còn ba hào sau thì càng tiến lên càng xấu: hào 5, kém phúc hào 2, mà hào trên cùng (ướt đầu) so với hào 1 (ướt đuôi) còn xấu hơn nhiều. Vẫn là lời khuyên gặp thời thịnh phải cẩn thận, đề phòng lúc suy.

- Advertisement -