Thập tứ, luận dụng thần phối khí hậu đắc thất

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

Nguyên văn: Luận mệnh duy lấy nguyệt lệnh dụng thần làm chủ, nhưng cũng nên xem phối khí hậu thế nào. Như anh hùng hào kiệt, sanh gặp giờ, tự nhiên việc 1/2 mà công nhiều lần; nghịch giờ, tuy có kì tài, không dễ thành công.

Từ chú: Dụng thần nên được giờ thừa khí, thí dụ như áo thun mùa hạ áo lông cừu mùa đông, được giờ tất quý. Nhưng lại có khi dụng thần tuy thừa vượng khí mà chẳng quý là, tất chịu ảnh hưởng của khí hậu. Nên dùng dụng thần, ngoài phò trợ hay ức chế, tất nên xem thêm có hợp khí hậu, tức là phép điều hậu vậy.

Nguyên văn: Vì thế Ấn thụ gặp Quan, là Quan Ấn song toàn, không ai không quý. Nhưng mộc mùa đông gặp thủy, tuy thấu Quan tinh, cũng khó mà quý, vì đang rét mà thêm nước đá, nước đá không thể sanh mộc, lý là như thế. Thân Ấn đều vượng, thấu Thực tất quý, phàm Ấn cách đều thế. Nhưng dùng đông mộc, vốn là tú khí, lấy đông mộc gặp hỏa, không chỉ có thể tiết thân, mà tức là điều hậu vậy.

Từ chú: Mộc sanh đông lệnh, nguyệt lệnh Ấn thụ, nước đá không thể sanh mộc, thấu Quan tinh tất kim theo thủy thế, càng thêm rét; thấu Tài tinh tất thủy hàn thổ đóng băng, không chút sanh cơ, nên Tài Quan đều không có dụng. Hàn mộc hướng dương, duy gặp Bính Đinh Thực Thương tất quý. Như:

Sát T.Tài Nhật chủ Thực
Canh Mậu Giáp Bính
Dần Dần Dần

Tài Quan đều là nhàn thần, không có dụng, trên trụ giờ Bính hỏa thanh thuần, lấy tiết thân điều hậu làm dụng, vì dụng của đông mộc, càng thêm tú khí. Là trụ của mỗ thượng thư thời tiền Thanh. Thế nên không chỉ có đông mộc, mà đông thổ cũng nên điều hậu, nên nói thổ kim Thương quan sanh ở đông lệnh, tất nên bội Ấn vậy.

Như trụ của tiền Thanh bành cương trực Công Ngọc Lân,

Kiêu Thương Nhật chủ C.Tài
Bính Tân Mậu
Quí
Sửu Sửu

Quý Tân trong Sửu thấu ra là quý, nhưng mùa đông thổ hàn, không có Bính hỏa sưởi ấm, tất dụng chẳng hiển. Mừng được trụ năm Bính hỏa, hợp mà không hóa, vận hành nam phương, Bính hỏa đắc địa, nên Mậu thổ Tân Quý, đều được hiển dụng, cũng là kíp điều hòa khí hậu vậy (Trụ trên ” mệnh giám ” phê rằng, dễ lầm với đảo xung cách, như hiểu thấu; nhờ đó mà hiểu cách cục kì dị xưa nay, phần nhiều như thế. Biết thêm như vậy, đến cả cái lỗi của mình).

Nguyên văn: Thương quan gặp Quan, như trăm mối họa, duy kim thủy gặp được, trái lại thành tú khí. Có Quan nào mà không sợ Thương, nhưng điều hậu là cần kíp, phải tạm dùng vậy. Thương quan đới Sát, tùy giờ có thể dùng, như dùng đông kim, thì đẹp gấp bội.

Từ chú: Ấy là nói kim thủy Thương quan vậy. Nguyệt lệnh Thương quan, vốn lấy Quan sát làm kị, riêng có kim thủy Thương quan, sanh mùa đông, kim hàn thủy lạnh, lấy hỏa làm đẹp, chẳng luận Quan sát vậy. Nên có thêm thân Ấn đều vượng, Tài Quan thông căn, mới thành quý cách. Như :

T.Tài Sát Nhật chủ T.Tài
Giáp Bính Canh Giáp
Thân Thìn Thân

Mộc hỏa không có căn, tuy tiểu phú nhưng mà chẳng quý, tạm không dùng Tài Quan, thân vượng lấy Thương quan tiết tú làm dụng, riêng Bính hỏa điều hậu, giúp phối hợp không thể thiếu được, như không có tất là trụ thanh hàn vậy. Có khi tuy được điều hậu mà thân nhược là như:

T.Tài Thực Nhật chủ T.Tài
Đinh Nhâm Tân Đinh
Tị Tị Dậu

Đinh hỏa tuy thông căn, nhưng nhật nguyên tiết khí quá, nên lấy Dậu kim phò thân là dụng, cũng là quý cách. Tùy nghi phối trí, đều không nhất định, riêng kim thủy mùa đông, không thể thiếu hỏa, không định sẳn dụng.

Nguyên văn: Thương quan bội Ấn, tùy giờ có thể dùng, nhưng dùng mộc mùa hạ, thì đẹp gấp bội, thủy hỏa tương tế vậy

Từ chú: Như thế cũng là có ý điều hậu vậy. Phàm bội Ấn tất nương theo thân nhược, nhưng mộc hỏa Thương quan, sanh mùa hạ thủy là bội Ấn, nhuận thổ sanh mộc, được trung hòa là tốt đẹp. Như :

T.Tài Kiêu Nhật chủ Thương
Canh Nhâm Giáp Đinh
Thìn Ngọ Thìn Mão

Mộc mùa hạ Đinh hỏa như hoa nở, ngày Thìn giờ Mão, thân không nhược, nên mừng Nhâm thủy nhuận trạch, thêm được Canh kim sanh Ấn, 2 Thìn tiết cái táo của hỏa, sanh kim nuôi thủy, phối trí trong hòa, làm thanh Quan sát vậy. Nhưng Giáp Dần tọa lộc (chắc ngày sinh hoặc năm là Dần), giờ gặp Mão mộc, nên nhật nguyên vượng, không thể bội Ấn, nên chỉ quý ít, mà chẳng kể đến bội Ấn tuy đẹp, nếu như ngày là kim thủy thì tất đã mừng gặp hỏa vậy.

Nguyên văn: Thương quan dùng Tài, vốn là quý cách, nhưng dùng thủy mùa đông, tức khiến cho tiểu phú, như lại nhiều thủy thì không quý, vì nước đá không thể sanh mộc vậy.

Từ chú: Tiếp đoạn trên nói về kim thủy Thương quan. Kim thủy Thương quan, lấy mộc làm Tài, Thương quan sanh Tài, vốn là cách tốt, nhưng mùa đông không có hỏa, thấy Tài cũng không có dụng, vì nước đá không thể sanh mộc vậy. Còn như thủy mộc Thương quan, gặp Tài rất tốt, vì Tài tức là hỏa vậy. Tóm lại lấy điều hậu làm cần kíp. Như:

Thương C.Tài Nhật chủ Thực
Giáp Bính Quí Ất
Hợi Mão

Thủy mộc là Thương quan dùng Tài, danh lợi đều toàn vẹn; lại như Kỷ Mùi, Ất Hợi, Quý Hợi, Bính Thìn, trụ của Uông Đại Phát, dùng Bính hỏa Tài, cũng là ý điều hậu vậy. Sách có câu, “duy có thủy mộc Thương quan cách, Tài Quan đều mừng gặp thủy “, kỳ thật thủy mộc hỉ Tài, kim thủy hỉ Quan. Nên xét phân biệt cho rõ.

Sát Thực nhật chủ c.Tài
Kỉ Ất Quí Bính
Mùi Hợi Hợi Thìn

(Uông Đại Phát)

Nguyên văn: Thương quan dùng Tài, tức là tú khí, như dùng mộc mùa hạ, quý mà rất không đẹp, táo thổ rất không linh tú.

Từ chú: Tiếp đoạn trên nói về mộc thủy Thương quan. Mộc mùa hạ dùng Tài, như

T.Tài Thương Nhật chủ C.Tài
Mậu Đinh Giáp Kỉ
Tuất Tị Dần Tị

Hỏa vượng mộc thiêu, mà tứ trụ không có Ấn, bất đắc lấy thổ tiết khí của hỏa, hành Ấn vận bị thổ hồi khắc, không chỉ chẳng quý, mà cũng khó giàu nổi.

Nguyên văn: Mộc mùa xuân gặp hỏa, tất là mộc thông minh, nhưng mộc mùa hạ không thể luận như thế; kim mùa thu gặp thủy, tất là kim thủy tương hàm, nhưng kim mùa đông không thể luận như thế. Khí có suy vượng, nên chọn lấy dụng thần cũng khác nhau vậy. Xuân mộc gặp hỏa, mộc hỏa thông minh, gặp Quan bất lợi; nhưng kim mùa thu gặp thủy, kim thủy tương hàm, gặp Quan chẳng ngại. Giả như Canh sanh tháng tháng Thân, mà chi có Tý hoặc Thìn, hội thành thủy cục, thiên can thấu ra Đinh, lấy làm Quan tinh, cốt yếu Nhâm Quý không nên thấu lộ can đầu, mới thành quý cách, cùng luận thuyết như Thực thần Thương quan mừng gặp Quan, cũng là đạo điều hậu vậy.

Từ chú: Xuân mộc gặp hỏa, mộc hỏa thông minh; mộc mùa hạ gặp hỏa, hỏa vượng mộc thiêu; kim mùa thu gặp thủy, kim thủy tương hàm; kim mùa đông gặp thủy, thủy ngập kim chìm. Ấy là vì khí hậu suy vượng khác nhau, không thể cứ luận theo 1 kiểu. Mộc mùa hạ, kim mùa đông, là chân Thương quan, chẳng đẹp bằng giả Thương quan. Mộc mùa xuân gặp hỏa thấy Quan, như :

Tỉ Thực Nhật chủ Sát
Giáp Bính Giáp Canh
Thân Dần Thân Ngọ

Mộc non kim cứng, Canh kim thông căn ở Thân, tất nên lấy Bính hỏa chế Canh làm dụng, nhờ đó có thể cứu mẹ. Như Canh kim khinh mà lại không có căn, tất bỏ đi không thể dùng, như Mậu Dần, Giáp Dần, Giáp Dần, Canh Ngọ, trái lại thành quý. Canh sanh tháng Thân mà hợp thủy cục, là kim thủy Thương quan giả, mừng thấy Quan tinh, cũng giống như kim mùa đông là Thương quan thật vậy. Nhâm Quý thấu lộ tất Thương hại Quan tinh, bất luận thu đông, đều cùng là kị.

Nguyên văn: Thực thần tuy gặp Chánh ấn, cũng là đoạt Thực, nhưng mộc mùa hạ hỏa thịnh, dùng ít thì tú nên quý, cũng luận giống như mộc hỏa Thương quan mừng gặp thủy, cũng cùng là điều hậu vậy.

Từ chú: Thực thần Thương quan cùng loại, Chánh ấn thì đoạt Thực, Thiên ấn thì chế Thương. Cốt yếu can chi không xung đột nhau, tất đều đắc dụng, bát tự như thế sở lấy quý ở chỗ phối trí thích nghi.

Như trụ này:

Kiếp Quan Nhật chủ Thương
Giáp Canh Ất Bính
Dần Ngọ Mão

Thực khinh bị Ấn xung, Quan khinh không gặp Tài, lại bị Bính khắc, là số mệnh ăn mày vậy.

Nguyên văn: Những loại như thế nhiều lắm, không cần kể hết, ở học giả duỗi ra co vào, định thần tự nhiên sáng tỏ.

Từ chú: Xem phép biến hóa ở trên, có thể biết dụng thần cho đến phụ tá, quan trọng 1 là ngày chủ có mong hợp không. Như có thể hợp, gặp Thương quan chẳng ngại; cốt yếu không hợp, Tài Quan đều là vật có hại. Như có 2 thần thành tượng, như thủy hỏa trì đối nhau, không thể không lấy mộc điều hòa, như tứ trụ không mộc, tất phải đợi vận mộc, đắp đầy chỗ khuyết, mới có thể phát tích. Lấy mộc là chủ yếu như vậy gọi là thông quan. Ấy là chọn dụng ở bên ngoài tứ trụ, rất là kì lạ.

Phàm bát tự tất lấy trong hòa làm quý, thiên vượng 1 phương, như không có thần điều tể, tuy thành cách thành cục, cũng không tốt đẹp. Như Mậu Tuất, Kỷ Mùi, Mậu Tuất, Bính Thìn, là cách Giá sắc, tiếc là Thìn bị Tuất xung, hỏa thổ thiên táo, khí chẳng trung hòa, Tân kim trong Tuất không thể dẫn xuất, con cái khó khăn, khó mà phú quý nữa. Vận lấy đất kim làm tốt đẹp, vận tới đất Tài, nguyên cục không Thực thương được hóa, quần Kiếp tranh Tài, mất. Là trụ đứa cháu của tôi, cho thầy điều hậu rất đỗi trọng yếu vậy.

 

Tử Vi Việt Nam Sưu  Tầm – Theo Tử  Bình Diệu Dụng

Chia sẻ.

Bình luận