322.-Giải đoán lá số tử vi của một người đã từng hoạt động cách mạng,..:Hồ Hữu Tường-7

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

KHHB số 7

Giải đoán lá số Tử vi của một người đã từng hoạt động cách mạng, văn hóa, chính trị:

HỒ HỮU TƯỜNG

  • Số nổi tiếng về văn hóa, sẽ chết già ở ngoại quốc, lắm người thương, nhiều người ghét, tài bất phùng thời.

Thiên Cơ phối kiểm và luận giải

Thành tích hoạt động Cách mạng chống Thực dân Pháp:

-1928 đến 1939. Bị đày Côn Đảo từ 1939 đến 1944.

Thành quả hoạt động văn hóa:

-Viết báo từ năm 1930 cho đến ngày nay. Nhiều tác phẩm đã xuất bản. Nổi tiếng nhất là bộ Phi Lạc sang Tàu, Bỡn Nga, Náo Hoa Kỳ, xuất bản vào những năm 1948, 49, 50.

Hoạt động Chánh trị:

-Chống Ngô Triều, bị bắt năm 1955, bị án tử hình năm 1957, đày Côn Đảo năm 1958, được về năm 1964. Đắc cử Dân biểu khóa 1 thời Đệ nhị Cộng hòa năm 1967.

-Chống Đệ tam Quốc tế Cộng sản, đưa ra chủ thuyết Trung Lập Chế từ năm 1945 để chống chủ nghĩa Mác Lê.

Dư luận về con người Hồ Hữu Tường:

-Một tay gian hùng bất phùng thời chuyên nói khoác.
-Một nhà chánh trị, văn hóa đa tài.

TUỔI CANH TUẤT, THÁNG 3, NGÀY 29, GIỜ DẦN, DƯƠNG NAM, KIM MỆNH, THỔ NGŨ CỤC.

Cách: Vũ Tướng thụ Mệnh tại Dần (nếu không ngộ Tuần, đây là số Chu Bột, một tay khai quốc công thần đời Tây Hán).

-Mệnh đắc Tam hóa liên châu. Thông minh xuất chúng. Số của cụ Tam Nguyên Yên Đổ.

-Mệnh và Thân đắc cách: Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội Tả Hữu, Long Phượng, Khôi Việt, Xương Khúc, Thai Tọa, Gia: Mã ngộ Tràng Sinh, Đế Vượng, Khốc, Khách, Lộc tồn.

Đây là cách Quần thần khánh hội: Cực phú và cực quí.

Đãn hiềm Mệnh Tuần, Thân Triệt, khiến nên đường đời phải trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Tài bất phùng thời: người ca tụng cũng nhiều, mà người chỉ trích cũng không ít.

Khái luận những biến chuyển trong các Đại, Tiểu hạn:

Năm Bính Dần (1962) gốc Đại hạn ở Phụ mẫu: Có Thái Dương ngộ Hỏa tinh ở Mão cung, đây là hạn Nhật xuất phù tang, Lưu đại hạn năm này trùng phùng ở cung Thiên Di, có Mã, Tràng sinh; Khốc, Khách. Đương số mới 17 tuổi, đang học đệ lục (2è année Collège Cần Thơ) vì tham gia phong trào Nguyễn An Ninh với bạn đồng lớp, bị đuổi. Hè năm này được một người có tiền, thương tình; giúp phương tiện cho qua Pháp tiếp tục học, là vì có Bắc đẩu tinh Phá Quân lạc hãm phá tán những tháng đầu năm, làm cho ngưng trệ sự học, năm này lại giáp Kình Đà, Thương Sứ ngộ Tang Môn, Quan phù, Tuế phá tam phương hội chiếu, đáng lẽ bị tù, nhưng nhờ Lộc tồn ở tiểu hạn, Hóa Lộc ở gốc đại hạn hóa giải rồi 6 tháng cuối năm. Phá quân mới nằm yên, ảnh hưởng tinh lực của Lộc, Mã, Trường sinh, Khốc, Khách phát tiết mạnh: cho đương số xuất ngoại hanh thông.

Tiếp qua năm Đinh Mão (1927) Tiểu và Lưu đại hạn cùng đến Dậu cung, chính chiếu với gốc Đại hạn ở Mão cung. Tuy là Hạn vào nhược cung (Tật Ách) nhưng cung này vô chính diệu rất ưa Không Kiếp và hội cả Khoa, Lộc, Tấu Thư, Thiếu dương là bộ sao thông minh hiếu học và chủ về sự đỗ đạt. Thành thử trong năm này đương số đỗ Tú tài dẫn đầu trong số du học sinh. Qua đầu năm 1928 (Mậu thìn) đương số đỗ luôn Tú tài II ban Toán và ban Triết. Hè năm này, phải về nước vì gặp nhiều trở ngại, người cung cấp tiền bạc không yểm trợ nữa. Nhìn vào lá số, thấy Tiểu hạn và Lưu đại hạn cùng đến Tài bạch, có Thái Tuế cố định gặp Thái tuế lưu niên Tuế phá ở Phúc cung chính chiếu hợp với Bắc đẩu tinh Liêm trinh, hội Bạch hổ, Văn Khúc, nếu Mệnh không có Tuần Không án ngữ, thì năm này đã bị ám toán dọc đường. Tuy nhiên, về nước mấy tháng, đến hết Hè lại được Hội Ái hữu cựu học sinh trường Bổn quốc (Association amicale des anciens Éleves du Collège Chasseloup-Laubat) cho học bổng sang Pháp, đương số lại được tiếp tục con đường học vấn. Đến năm 1930 (Canh Ngọ) thi xong Cao học Toán đang dọn chương trình thi Thạc sĩ môn này thì đã tham gia hoạt động chính trị chống chánh sách thuộc địa Pháp ở Đông Dương; đương số ăn Tết dương lịch trên tàu thủy giữa đường về nước. Vì năm này hạn đến, Tham Lang ở cung Tý, gặp Thất Sát hãm ở Thìn cung hội chiếu. Lại thêm Tang môn hội Bạch Hổ, Phục Binh, Tuế phá, Thiên Hư; nhất là ảnh hưởng của Đế ngộ hung đồ (Tử vi ngộ Triệt) ở Quan lộc chính chiếu.

Tiểu hạn năm Tân Mùi (1931), Tấu Thư ngộ Hóa Khoa, bắt đầu hoạt động về báo chí, nổi tiếng là nhờ Đường phù ngộ Không, Kiếp. và cũng vì Không, Kiếp ngộ Thiên Cơ, và Cự, Đồng lạc hãm cho nên viết báo bí mật cho cách mạng.

ĐẠI HẠN ĐẾN PHÚC ĐỨC (25-34): Liên đại hạn Sát, Phá, Liêm, Tham, gặp bộ sao Khốc, Hư, Tang, Điếu, Thái Tuế, Tuế phá hội họp làm cho đương số ba chìm bảy nổi cút bắt với mật thám Pháp. May nhờ có Thiên Phủ; Lộc; Mã; Sinh Vượng và Thanh Long; Thiên giải; Giải thần; mới thoát hiểm nhiều lần trong những năm 1932, 36, 38. Nhưng đến năm 1939 (Kỷ Mão) tiểu hạn vào Tật Ách: gặp đủ bộ Không Kiếp Đà Diêu Linh; Hỏa, Đường phù; Tử phù; Thiên sứ thì hết thoát nổi. Do đó, năm này đương sứ bị bắt và bị chính quyền Bảo hộ Pháp đẩy ra Côn đảo 5 năm. Đến năm 35 tuổi (1944: Giáp Thân), tiểu hạn vào Mệnh cung ở Dần, có Tuần; Đại hạn cũng đổi mới, bắt đầu vào Điền Trạch có song Hao ngộ Tuyệt; Quan; Phúc quí nhân hội họp đương số mới được hả hê. Cũng trong đại hạn này, Khoa Tấu thơ hội Thái Âm; Hóa Kỵ, Thiếu âm, Thiếu dương ngộ Cơ; Cự; Đồng khiến nên đương số hoạt động mạnh về văn hóa song song với chánh trị. Cuốn sách Phi Lạc sang Tàu gây sôi nổi lúc bấy giờ dành cho đương số một chỗ đứng trên văn đàn bấy giờ xuất bản vào năm Mậu Tý khi tiểu hạn vào Quan Lộc cung. Đến năm Kỷ Sửu đương số 40 tuổi, tiểu hạn vào Nô cung, vô chính diệu nhờ đại hạn có Kiếp, Không, Thiên hỉ, Hồng Loan, Thiên quan, Thiên phúc, Hóa Khoa, đương số được quí nhơn giúp cho xuất ngoại sang Pháp. Nhiều tác phẩm của đương số được xuất bản trong thời gian này, và trong thời kỳ này đương số cũng mang tiếng thị phi rất nhiều, vì có Hóa Kỵ; Thiên không gặp Hình; Sát; Cự; Kiếp.

NĂM QUÝ TỴ (1953) ĐƯƠNG SỐ 44 TUỔI: đương số hoạt động chánh trị ở quốc nội rất mạnh, lúc này chủ thuyết Trung Lập Chế được tung ra như một món bửu bối sách lược chống chủ thuyết Mác Lê của Cộng Sản, tên tuổi của đương số được mọi giới trong và ngoài nước đều biết. Nhưng có Thiên Không, Kiếp Sát phá tán cho nên đương số phải chịu chí bất đạt thành. Để rồi năm Ất Mùi, 1945 đương số 46 tuổi Đại hạn vào cung Quan Lộc có Tử Phủ Vũ Tướng gia Liêm Tham; Đại hạn thì Tử vi ngộ Triệt, gặp Liêm Tham. Tiểu hạn Cự Đồng lạc hãm lại hội đủ Kiếp, Không Kình Đà Linh Hỏa. Đó là năm đương số bị chánh phủ Ngô Đình Diệm bắt. Và chờ qua năm Bính Thân (1956) đương số 47 tuổi, lưu đại hạn ở Tử tức, Hóa kỵ gặp Thiên không, Kiếp sát, Thiên hình và Cô Quả. Tiểu hạn ở Mệnh cung có Thiên Tướng ngộ Tuần gặp phục binh, quan phù, Thái tuế mới bị xử tử hình và năm 1958 bị đày Côn Đảo.

Đáng lẽ đương số bị xử tử ở Đại hạn Đế ngộ hung đồ, và tiểu hạn Tướng bị cụt đầu giao huy là rất nặng, nhưng nhờ cung Tật ách vô chính diệu lại có Địa không tọa thủ. Gốc đại hạn bị Triệt thuộc Thủy, cung Quan lộc ở Ngọ thuộc Hỏa. Triệt không ảnh hưởng mạnh đối với Đế tinh. Đương số lại Thổ ngũ cục, đại hạn ở cung Ngọ thuộc Hỏa được tương sanh. Nhờ đó hóa giải cho đương số, tuy bị tử hình vẫn được giam hậu.

NĂM GIÁP THÌN (1964) ĐƯƠNG SỐ 55 TUỔI: đại hạn vừa đổi qua Nô bộc ở Mùi và Tiểu hạn vào Tài bạch ở Tuất cung. Gốc đại hạn vô chính diệu rất hợp với Mệnh Tuần, Thân Triệt của đương số, tiểu hạn gặp Thiên Phủ, Khôi Việt, Thanh Long hội Long trì, Thiên giải, Thai Tọa, Phong Cáo, Hóa Quyền, đương số được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ân xá. Đại hạn này cũng gặp Hóa Khoa, Tấu Thư cho nên các sáng tác phẩm của đương số lại được lần lượt xuất bản và đương sự hoạt động văn hóa nhiều hơn.

NĂM ĐINH MÙI (1967), ĐƯƠNG SỐ 58 TUỔI: Gốc đại hạn còn ở Nô bộc là cung vô chính diệu. Tiểu hạn đến Huynh đệ gặp Không, Kiếp, Tấu thư, Hóa khoa, Cự, Cơ, Đồng lại giúp cho đương số đắc cử Dân biểu khóa I dưới thời đệ nhị Cộng hòa. Cũng gốc đại hạn vô chính diệu này, năm Kỷ Dậu (1969) đi vào Phụ Mẫu gặp Nhật xuất lôi môn hội Thái Âm, Hóa Kỵ ngộ Diêu, Đào, Hỉ lại giúp đương số xuất ngoại lần thứ ba nữa. Vì gặp Kình Đà Cô Quả, Hình Kỵ, Kiếp Sát, Thiên Không cho nên trong lần xuất ngoại này, đương số mang nhiều thị phi khẩu thiệt.

NĂM TÂN HỢI (1971), TIỂU HẠN VÀO ĐIỀN TRẠCH. Đương số 62 tuổi, hạn Cơ, Cự, Đồng, Âm gặp song Hao, Tuyệt, Không, Kiếp, Kiếp sát, Thiên không, Hình, Kỵ Đà La, làm cho đương số thất cử Dân biểu khóa nhì vào mùa Thu năm này.

Vào những năm cuối đại hạn 45 – 54 ở Nô cung, có Thiên Lương ngộ Thiên Không và Cô Quả Hình Sát Kỵ, khiến nên đương số xuống tóc, mặc áo tràng, mang tràng hạt làm tu sĩ. Nhưng chỉ tu tại gia vì có hạn Thiên Hỉ, Hỉ thần, Đào, Diêu ngộ Âm, Dương hội chiếu, giáp Tả Hữu, Xương, Khúc, cho nên không xuất gia được.

Tổng luận Đại hạn 55-74 và vài cung khác:

Đại hạn 65-74 đi vào Thiên Di là cung tốt nhất của tuổi này. Vào năm 65 tuổi, Đại tiểu hạn trùng phùng ở Thiên Di có Lộc tồn, Thiên mã, Trường sinh và Mã, Khốc, Khách hội Lộc, Quyền, Long, Phượng, Tướng, Ấn, đương số Kim mệnh Dương nam, hạn đáo cung Thân thuộc Dương, hành Kim, tinh lực Phá quân được các bộ cát tinh Lộc Quyền, Tướng, Ấn, Cáo, Phụ, Long, Phượng, Sinh, Vượng, Mã, Khốc, Khách khánh hội giúp cho đương số được 10 năm toại nguyện, và đương số sẽ được nhiều dịp xuất ngoại.

MỆNH VIÊN VÀ PHÚC ĐỨC CUNG: Nhìn 2 cung này, thấy có Vũ Tướng ở Mệnh, Trường sinh, Đế vượng ở Phúc khiến cho nên đương số không theo đuổi sự nghiệp cách mạng giai cấp đấu tranh, sát phạt đổ máu được vì những sao Vũ Tướng Sinh Vượng luôn luôn ngăn cản sự sát phạt và hướng con người về đường thiện đạo. Tuổi này dù có làm gì cũng nổi tiếng về Văn hóa vì Mệnh có Tả Hữu ngộ Xương, Khúc, Khôi, Việt và nhất là Tam hóa liên châu củng mệnh.

TẬT ÁCH VÀ THIÊN DI: Thoạt nhìn thấy Tật ách có Kiếp, Không, Linh, Hỏa Đào, Diêu, Hồng Hỉ có thể đoán ra bất đắc kỳ tử. Nhưng xem kỹ cung này vô chính diệu rất ưa Không, Kiếp, Hỏa, Linh và bên trong lại có Địa Không tọa thủ, cho nên đương số vẫn được trường thọ. Thiên Di cung số có Lộc, Mã ngộ Trường sinh, Đế vượng tuy là tốt, nhưng Lộc tồn ở đây không được hoàn mỹ bằng Hóa Lộc, vì Lộc tồn phải giáp Kình, Đà làm cho Tang môn, Quan phù, Bệnh phù, Tuế phá tam phương dễ xâm nhiễu. Chúng tôi đoán rằng về vận tuế, đương số sẽ xuất ngoại và ở luôn rồi mãn phần ở nước ngoài.

TVVN Sưu Tầm – theo Tử Vi Lý Số

Chia sẻ.

Bình luận