304.-Giải đoán về đại tiểu hạn-KHHB số 47

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

KHOA HỌC HUYỀN BÍ 20/09/1973

MỤC LỤC :

KHẢO CỨU – THAM LUẬN

– Giải đoán về đại tiểu hạn

– Bảng ghi tính chất các sao

– Giải đoán 3 vòng Thái Tuế – Lộc Tồn – Trường Sinh à (mất trang)

– Quan niệm chữ thọ của Đạo Lão

– Vòng Lộc Tồn trên lá số Tử vi

– Lá số tử vi của Khổng Tử à (mất trang)

– So sánh 2 lá số tử vi của giáo sư Bông và Khổng Minh

– Lá số tử vi của nữ diễn viên Ngọc Sương

– Cổ tục Cao Miên

– Vài nét tướng về mũi

KHOA HỌC HUYỀN BÍ & KHOA HỌC

125]- Tôi học Dịch

125]- Khoa châm cứu

125]- Tìm hiểu về bùa chú Cao Miên

125]- Kinh Dịch và Tử vi đẩu số

125]- Cảm xạ học và bệnh ung thư

125]- Giep quẻ bói Dịch

125]- Bài toán cảm xạ học

125]- Vũ trụ và không gian vô cùng bí mật

125]- Nguyễn TRãi với trận Tụy Động

125]- Bói chiết tự

CHUYỆN HUYỀN BÍ & LỊCH SỬ

125]- Thầy bùa, thầy pháp thời nguyên tử

125]- Phái bộ “Ánh sang của thượng đế”

125]- Nó là con tôi mà

125]- Chó liếm cõi mòn

125]- Lượm lặt huyền bí

125]- Bà thầy bói người Pháp Soundra

125]- Một trò bói quẻ trên đất Ấn Độ

125]- Bí sử dòng vua nhà Mạc

125]- Sự tinh khôn của loài vật

125]- Giao cảm với cõi âm

125]- Người hóa sói

125]- Tiền oan nghiệp chướng

125]- Thiên đường địa ngục ký

125]- Chuyện những tấm gương mầu nhiệm

125]- Siêu tài liệu về Đề Thám

PHỤC VỤ BẠN ĐỌC:

125]- Y học Đông Phương : bệnh trúng phong

125]- Trả lời bạn đọc

125]- Hộp thư

125]- Bảng đối chiếu dương lịch sang âm lịch

125]- Vận mạng của bạn

125]- Mục lục giai phẩm KHHB

GIẢI ĐOÁN ĐẠI TIỂU HẠN – MỘT VÀI KHÍA CẠNH CẦN NHỚ

PHONG NGUYÊN

Trên bước đường nghiên cứu và học hỏi về tử vi, tôi có thể nói rằng việc giải đoán vận hạn khó khăn, phức tạp nhất vì ta phải cân nhắc và phối hợp quá nhiều yếu tố, mặc dù trong nhiều sách số có bàn tới khía cạnh này nhưng tôi rất tiếc là hơi tổng quát và không được rõ rang. Thực vậy, nếu cứ tra trong sách thì đại tiểu hạn gặp sao này bị nạn, gặp sao kia phát tài, hoặc đại hạn nhiều sao tốt hơn là sao xấu là tốt, hoặc đại hạn xấu mà tiểu hạn tốt cũng không hay…v.v…..như thế chúng ta làm sao có thể đi tới kết luận và như thế cũng quá giản dị, dễ dàng và thiếu linh động, uyển chuyển, trái hẳn với tinh thần tử vi
Vì vậy tôi cố gắng thử triển khai cách giải đoán đại tiểu hạn (trong bài này tôi không đề cập tới nguyệt và nhật hạn vì đi quá sâu vào chi tiết rất khó khăn, dễ sai lầm và dễ bị thất vọng) nhưng sẽ bỏ qua những nguyên tắc thường được các sách nêu ra cho khỏi rườm

1/ ĐẠI HẠN :
Nếu so sánh với tiểu hạn thì đại hạn dễ giải đoán hơn nhiều vì đại hạn bao trùm chu kỳ 10 năm, do đó tổng quát hơn và nhất là các đại hạn không bao giờ giống nhau vì ở đại hạn ở 1 cung không trùng nhau như tiểu hạn (tiểu hạn cứ 12 năm lại trở về cung trước). Tuy nhiên khi so sánh với cách giải đoán tổng quát Mệnh – Thân thì đại hạn vẫn khó tìm hiểu vô cùng.
Nói chung, khi giải đoán đại hạn, quý bạn nên lưu tâm tới những điểm sau (theo thứ tự):

– Tương quan giữa các sao hoặc các cách (nhất là chính tinh) của Mệnh, Thân với các sao hoặc các cách của đại hạn

– Tương quan giữa ngũ hành của bản mạng (hoặc cục) và ngũ hành của cung nhập đại hạn

– Ảnh hưởng sớm hoặc trễ của các sao Nam đẩu hoặc Bắc đẩu

– Phối hợp cung Phúc với đại hạn

– Phối hợp cung liên hệ đến hoàn cảnh xảy ra trong đại hạn (nếu cần)

– Lẽ tất nhiên quý bạn phải xem xét tới ý nghĩa tốt xấu của các sao mà tôi không nêu ra vì các sách đã có bàn tới, ngoài những nguyên tắc nêu trên

Bây giờ xin đưa ra những ví dụ cụ thể để quý bạn hiểu rõ các nguyên tắc tổng quát liệt kê trên đây:

  • Sau khi đã nhận định về ý nghĩa tốt xấu của các sao nhập đại hạn, quý bạn cần xem sao hoặc nhóm sao của Mệnh (nếu chưa quá 30 tuổi) hoặc Thân (nếu trên 30 tuổi) có hợp với các sao nhập đại hạn không. Đây là điểm quan trọng nhất mà nhiều người biết tử vi thường hay bỏ qua. Thực thế, có khi cách hoặc sao nhập hạn rất hay mà vẫn chẳng tốt hoặc chẳng ứng nghiệm, chỉ vì không hợp với cách của Mệnh Thân. Ví dụ như: Mệnh hoặc Thân có cách Sát Phá Liêm Tham mà cung nhập hạn có cách Cơ Nguyệt Đồng Lương thì không sao dung hòa với nhau được và do đó cuộc sống phải gặp nhiều khó khăn, trở ngại, mâu thuẫn, đối kháng dù cho Cơ Lương đắc địa Thìn Tuất chăng nữa. Còn như Mệnh Thân có cách Tử Phủ Vũ Tướng mà hạn gặp Cơ Nguyệt Đồng Lương thì nhất định là hay rồi với điều kiện đừng có Không Kiếp lâm vào vì Tử Phủ rất kị 2 sao này, dù gặp gián tiếp. Ngoài ra, còn cần phải xem ngũ hành của chính tinh tọa thủ tại cung nhập hạn (nếu có). Ví dụ như Mệnh có Tham Lang thuộc Thủy, nếu đại hạn có Tử Phủ Dần Thân thì vẫn xấu như thương vì Tử Phủ thuộc Thổ khắc với chính tinh Tham Lang
  • Điểm quan trọng thứ nhì là phải xem xét ngũ hạnh của Mạng (nếu chưa quá 30t) hoặc của Cục (nếu quá 30t) có hợp với ngũ hành của chính tinh và của cung nhập hạn hay không. Hay nhất là được cung và sao sinh bản mạng hoặc Cục (tùy theo trường hợp). Hoặc nếu không, phải tương hòa, nghĩa là cùng 1 hành (có nhà tử vi lại cho rằng cùng 1 hành là thuận lợi nhất). Còn trường hợp sinh xuất, tức là mạng sinh sao hoặc cung nhập hạn, và khắc nhập, tức là sao hoặc cung khắc mạng, thì đều xấu cả. Riêng trường hợp khắc xuất tuy cũng vất vả nhưng mình vẫn khắc phục được hoàn cảnh, và do đó chưa hẳn là xấu. Ví dụ Mạng của mình là Thủy đi đến đại hạn có Cự Kị, Không Kiếp cũng chẳng hề gì, nếu có xảy ra cũng chỉ sơ qua. Trong khi đó, nếu mình mạng Hỏa hoặc Kim thì đương nhiên dễ bị hiểm nghèo về họa nước. Hoặc là mạng mình Kim, đi đến cung nhập hạn có Vũ Khúc hội Song Lộc, Tử Phủ…thì làm gì không giàu có. Trong khi mạng Mộc thì có khi khổ vì tiền
  • Về ảnh hưởng sớm trễ của chính tinh, chắc quý bạn đều biết là Nam Đẩu tinh ứng về 5 năm sau của Đại hạn, còn Bắc đẩu tinh ứng về 5 năm trước. Tuy vậy vẫn có bạn chưa hiểu phải áp dụng giải đoán như thế nào. Tôi xin đơn cử 1 thí dụ : Mạng có Đào Hoa, Mộc Dục, Hoa Cái, đại hạn có Tham Lang, Riêu Hồng, Kình, Hình thì gần như chắc chắn trong 5 năm đầu đương số sống 1 giai đoạn rất lả lướt, bay bướm vì Tham Lang (Bắc đẩu) cũng như cái đầu tàu lôi kéo tất cả các sao phụ kia, nhưng với điều kiện đương số phải mạng Thủy, Mộc hoặc Kim mới ứng nghiệm nhiều, vì Tham Lang thuộc Thủy hợp với ngũ hành trên. Nếu chính tinh nhập hạn là Thiên Lương (Nam đẩu) thì các nhóm sao phụ đó lại phải hoạt động chậm lại theo với ảnh hưởng của chính tinh, tuy nhiên cuộc sống không bừa bãi bằng Tham Lang nhập hạn vì dù sao Thiên Lương vẫn là sao đứng đắn, đàng hoàng hơn (trừ trường hợp Thiên Lương cư Tị, hợi mới xấu)
  • Nhiều khi phối hợp Mệnh Thân với đại hạn cũng chưa đủ. Quý bạn còn cần xét đến cung Phúc và đừng bao giờ nên quan niệm cung Phúc chỉ biểu tượng đơn thuần về âm đức của ông cha để lại hoặc của chính mình tạo ra hoặc mối liên hệ tinh thần của cả dòng nội của mình vì thực ra cung Phúc Đức có thể được coi như cung Mệnh thứ nhì, đôi khi còn quan trọng và ảnh hưởng hơn. Có nhiều nhà tử vi chỉ xét riêng cung Phúc đức mà có thể tìm ra được khá nhiều nét về cuộc sống tinh thần cũng như vật chất của mọi người, nhất là trong trường hợp mệnh, than không có đủ yếu tố nhận định rõ rang hoặc bị coi như là “nhược” khiến cho ta không thể bám víu mà đoán. Ví dụ như 1 người có tả Hữu, Đào hồng chiếu Thê và cung mệnh có Riêu Mộc Cái hội chiếu thì đương nhiên có lòng tà dâm, dễ có nhiều vợ, nhưng nếu cung Phúc có Vũ Khúc Cô Quả, Lộc Tồn thì dù có gặp đại hạn có yếu tố đa tình, lả lướt chăng nữa cũng khó chung sống them với 1 người đàn bà nào khác 1 cách chính thứ, chỉ có thể giỡn chơi trong 1 thời gian ngắn là cùng
  • Điểm sau chót quý bạn nên lưu tâm là cung liên hệ đến hoàn cảnh xảy ra hoặc cần giải đoán trong đại hạn. Trong phần nguyên tắc tổng quát nêu trên, tôi có nói là nếu cần thì mới xét tới vì khi mình giải đoán chung vận hạn thì ít khi phải nhận định khía cạnh này, chỉ trừ khi nào cần biết 1 điểm riêng biệt nào mới phải ngó tới cung liên hệ. Ví dụ như đương số đã có vợ hoặc chồng mà cần biết về đường con cái trong đại hạn đương diễn tiến thì ngoài các điểm cần phối hợp nêu trên, ta phải quan tâm đến cung tử tức (tức là cung liên hệ đến hoàn cảnh) trước đại hạn. Nếu cung Tử tức quá hiếm hoi, như có Đẩu quân, Cô Quả, Kình Đà, Lộc Tồn, Vũ Khúc, Không Kiếp chẳng hạn thì dù cho đại hạn đó có đủ Đào hồng hỉ, Thai, Nhật Nguyệt đắc địa, Long Phượng cũng chưa chắc gì sẽ sinh con đẻ cái đầy đặn hoặc may mắn về công danh, tiền tài. Còn nếu gặp trường hợp cung Tử tức không bị các sao hiếm mà lại còn có Tả Hữu chiếu thì đại hạn trên sẽ sinh liên tiếp, có khi năm 1 không chừng

2. TIỂU HẠN:
Bàn về tiểu hạn (tức là vận hạn trong 1 năm) quý bạn sẽ thấy khó khăn, phức tạp hơn đại hạn nhiều vì phải phối hợp với nhiều yếu tố hơn. Tôi bất giác thương hại các thầy tử vi hành nghề cứ phải giải đoán cấp kỳ theo như yêu cầu của than chủ, vì dù cho các thầy có giỏi đến đâu cũng không thể kết hợp được đúng mức, sau có 1 vài phút đồng hồ, nhất là khi phải bấm trên tay (trường hợp thiếu thị giác) và như thế làm sao chính xác được. Ngay cả khi rảnh rang, cứ ngồi mà cân nhắc, kết hợp cũng chưa chắc đã giải đoán được chính xác vì yếu tố này bổ túc hoặc chế hóa yếu tố khác thì ta đi đến kết luận nào. Do đó, dù có được biết đủ các nguyên tắc để giải đoán tiểu hạn, việc đoán cao thấp tùy thuộc óc kết hợp, nhận định tinh vi của người giải đoán.
Nếu đặt vấn đề nguyên tắc thì tiểu hạn tạm căn cứ vào các điểm sau (mà 1 vài điểm theo quy tắc đã được các sách nêu ra):

– Tương quan giữa đại hạn và tiểu hạn

– Tương quan giữa ngũ hành bản mạng với các chính tinh (nếu có) và cung nhập hạn

– Tương quan giữa lưu đại hạn, địa bàn và thiên bàn

– Tương quan giữa ngũ hành của năm nhập hạn với cung và sao nhập hạn

– Các phi tinh (tức là các sao lưu) ngoài ý nghĩa xấu tốt của các chính tinh và phụ tinh mà các sách thường nêu ra

Dưới đây tôi xin triển khai các điểm ghi trên để các bạn hiểu rõ ràng:

a. Khi xét đến tương quan giữa đại hạn và tiểu hạn là đương nhiên ta đã tìm hiểu kỹ đại hạn theo các nguyên tắc đã nêu ra. Tôi có thể nói mối tương quan này rất quan trọng, cũng như mối tương quan giữa đại và tiểu hạn nên ta không bao giờ giải đoán 2 tiểu hạn giống nhau mặc dù 12 năm lại trở lại 1 cung, tức là cùng các sao và ngũ hành. Riêng mục này tôi xin đưa ra nhiều ví dụ vì mục này rất quan trọng:

– Ví dụ đầu tiên là các sao bao giờ cũng phải có đủ bộ mới làm nên chuyện hoặc mới hoạt động. Chẳng hạn như đại hạn có Thái Tuế, Bạch hổ, Quan phù, Không Kiếp, Khốc Hư thường chỉ đoán tranh chấp, kiện cáo, khẩu thiệt. Khi tiểu hạn có Cô Quả, Kình Đà, hình, Linh Hỏa thì dễ bị tai họa….(không thể nhìn thấy chữ)… nếu không có không sao. Tiểu hạn đó vẫn chẳng tai hại gì, có thể chỉ bị đau yếu sơ qua, hoặc bị xa gia đình….

 

– Đó là bàn về chuyện xấu, còn về việc làm ăn thịnh vượng thì nếu đại hạn có Vũ khúc, Thiên Phủ hợp mệnh mà tiểu hạn có Song Lộc thì đương nhiên làm ăn phát tài, dễ dàng. Hoặc giả đại hạn có tử vi cư Ngọ (nhất là có Quan Lộc hoặc Tài Bạch đứng ở đó) hợp Mệnh mà tiểu hạn có Khôi Việt, Thai Tọa, Tả Hữu, Long Phương, Đào hồng Hỉ, Xương Khúc… thì dễ có chức phận lớn, dễ chỉ huy hoặc kinh doanh quy mô

 

– Nếu thấy các sao nhập Đại và tiểu hạn họp thành bộ rồi, cần phải xét xem các chính tinh (không bao giờ xét đến phụ tinh) của đại hạn có phù hợp hoặc đối kháng với các chính tinh của tiểu hạn hay không. Nếu đại hạn có Cơ Nguyệt Đồng Lương thì tiểu hạn cần có Cự Nhật hoặc Tử Phủ Vũ Tướng chứ không nên có Sát Phá Tham…Về điểm này, quý bạn nên xem phần tiểu luận trong sách Tử Vi đẩu số tân biên của VĐTTL cũng đầy đủ và dễ hiểu. Vì thế, tiểu hạn tốt cũng chưa chắc ăn mấy

 

– Nếu chú ý về cá nhân mình thì cần đại hạn tốt đi vào 1 trong những cung liên hệ trực tiếp đế mình thời tiểu hạn mới xứng ý (như cung Tài, Quan, Di, Điền, Phúc). Ví dụ mình muốn làm ăn, kinh doanh lớn mà đại hạn còn ở cung phụ mẫu hoặc cung Tử tức thì dù cho tiểu hạn có tốt vẫn chưa phát huy được đúng mức, nhất định là phải chờ Đại hạn chuyển sang cung tài bạch (nhưng nếu xui xẻo, gặp cung Tài xấu thì cũng như vô vọng) mới hanh thông được

 

– Sau hết tôi xin nêu ra 1 trường hợp rất khó đoán: đương số mạng Tham Lang cư Thì, tức là tổng quát là lả lướt và đào hoa, cung Thê có Đào hồng, Tả Hữu chiếu tức là có sự lựa chọn, mai mối nhiều và đại hạn lại đi tới cung Thê, như thế là đủ hết các yếu tố đi tới hôn nhân. Do đó các thầy tử vi đều đoán đương số lấy vợ ở các tiểu hạn có Đào hồng Hỉ, tả Hữu, Xương Khúc….nhưng ai ngờ đương số lại lập gia đình trong tiểu hạn có Cô Quả, Tang Hổ, Nhật Nguyệt hãm hội Hóa Kị và lại không ngó thấy đại ha5hn ở cung Thê (vì thông thường các nhà tử vi hay lựa tiểu hạn hội chiếu với cung Phối hoặc trùng phùng ngay vào cung Phối để đoán hôn nhân). Tuy trường hợp này hơi kỳ lạ nhưng nếu suy luận 1 chút là thấy hợp lý vì theo nguyên tắc “tồn hữu dư, bổ bất túc” trong Dịch học, ta thấy các yếu tố về hôn nhân quá nhiều (tức là dư) thì cần phải có sao tiết giảm như Cô Quả, tang hổ Kị thời con thuyền mới có bến đậu được, chứ không “trăm mối tối nằm không”, nhất là tiểu hạn lại vào cung Giải Ách, tức là tránh né, không nhìn thấy cung Phối là cung đại hạn đi tới để khỏi chịu ảnh hưởng quá mạnh của các sao Hỉ. Điều may là trường hợp này ít khi xảy ra hoặc ít khi gặp nên quý bạn cũng đừng quá hoang mang, cứ đoán như thường lệ.

 

b. Thường thường, đoán tử vi ai cũng thích các chính tinh sinh bản mệnh. Điều này chưa hẳn đã hay hoàn toàn vì nếu gặp chính tinh như Phá Quân hoặc Tham Lang nhập hạn và mạng mình có Cơ Nguyệt Đồng Lương thì nên lựa mạng khắc 2 sao này hơn là được 2 sao này sinh (lẽ dĩ nhiên 2 sao này khắc mạng là điều tối kị) vì bộ CNĐL không ưa 2 chính tinh này nên tốt hơn hết là mời 2 sao đó đi chỗ khác, tức là trường hợp mình có mạng khắc 2 sao này. Ngay cả trường hợp mệnh mình có bộ sao chế ngự được Tham Phá (như bộ TPVTL chẳng hạn) cũng không nên liên hệt đến 2 sao này vì dù sao chúng cũng chủ về tham vọng, ích kỷ, phá tán, bừa bãi, trừ khi đương số là loại người thích đi vào con đường đó thì không kể. Còn như chính tinh nhập hạn như Tử Phủ, Đồng Lương…..bao giờ cũng cần sinh bản mạng hoặc ít ra cùng 1 hành với mạng, dù cho đại hạn có bộ sao đối kháng với các sao tiểu hạn

 

Về tương quan giữa ngũ hành bản mạng với cung nhập hạn thì bao giờ cung sinh bản mạng cũng tốt đẹp, thuận lợi hoặc nếu được tương hòa thì vẫn hay, chỉ ngại nhất cung khắc bản mạng, còn như mạng sinh cung hoặc khắc cung cũng có khi dung được tuy không phải là hay. Ví dụ như hạn đến cung Tử tức có các sao tốt nếu sinh được cung tức là mình lo được cho con cái thành công hoặc đầy đủ,chứng tỏ mình có phương tiện, tuy mình phải vất vả 1 chút vì con cái nhưng nếu cung Tử tức xấu thì đương nhiên là mình khổ vì con (hoặc vì chúng đau yếu, chết non, hay cao bồi, du đãng mình vẫn thương yêu chúng). Còn gặp trường hợp khắc cung cũng vậy, có khi hay mà có khi dở, nếu gặp tiểu hạn đi tới cung Nô bộc thì lại hay vì mình khắc phục được người dưới quyền hoặc hoàn cảnh. Còn như tiểu hạn đi tới cung Phụ Mẫu thì mình hay bất hòa với cha mẹ (nếu cung phụ mẫu xấu quá có thể mình phải xa cách cha mẹ…Những điểm trên đây quý bạn có thể áp dụng cho cả đại hạn

 

c. Về vấn đề lưu đại hạn, Địa bàn (tức là tiểu hạn theo vị trí cố định của các cung, như năm nay Quý Sửu, xem địa bàn ở cung Sửu) và Thiên bàn (tức tiểu hạn theo hàng chi an ở ô giữa lá số), tôi thấy không quan trọng lắm vì thật ra chỉ xét kỹ cung Thiên bàn là đủ và đỡ rắc rối quá mức. Chỉ trừ khi nào ta thấy Thiên bàn quá xấu hoặc k rõ chút nào mới cần kết hợp them lưu đại hạn và Địa bàn để xem có yếu tố gì cứu giải hoặc soi sang them không. Về cách lưu đại hạn trong cuốn TVĐSTB có ghi rõ rồi

 

d. Về ngũ hành của hàng can năm nhập hạn ảnh hưởng tới tiểu hạn nhiều hay ít thì cụ Song An Đỗ Văn Lưu khi còn sinh tiền có cho tôi hay là rất quan trọng. Cụ có nêu 1 ví dụ cho dễ hiểu như sau : 1 người mạng Kim có Cự Kị thủ mệnh, đại hạn có Không Kiếp, tả Hữu, SPT (tức là hạn trúc La) đã chết đuối trong tiểu hạn năm Nhâm Thân vì chữ Nhâm là Thủy và cung nhập hạn cũng là Thủy, trong khi đó mạng Kim lại sinh Thủy, cho nến nước quá nhiều, Kim phải chìm lỉm. Suy ra những trường hợp khác cũng dễ : ví dụ tiểu hạn đến cung Điền có Tang hỏa và nhiều sao Hỏa nếu gặp năm Nhâm hoặc Quý thì vẫn không đáng ngại về hỏa hoạn vì đã được thủy dập tắt rồi. Như vậy, mục (d) này quý bạn cũng không nên bỏ qua khi đoán tiểu hạn, và đây cũng là 1 điểm cho thấy là 2 tiểu hạn cùng 1 cung đã có sự khác biệt

 

e. Phần chót là về các phi tinh (sao lưu). Tôi thấy các phi tinh không quan trọng lắm, chỉ là để xác định them 1 chút những yếu tố đã tìm rra. Ví dụ như biết hạn xấu rồi thì nếu có them lưu Kình Dương gặp KD cố định đồng cung ta có thể tin chắc là nguy nan. Nếu tiểu hạn tốt thì dù có 2 sao này cũng chẳng hề hấn gì. Cũng có nhà tử vi căn cứ vào vòng trường sinh (lưu) để tìm ra vận hạn cho những người liên hệ trực tiếp với mình (như cha, mẹ, vợ, con…) nhưng tôi thấy chưa có gì chính xác và hợp lý nên xin miễn bàn trong mục này

Qua những điều tôi trình bày trên đây, quý bạn hẳn thấy việc giải đoán vận hạn rất rắc rối, khó khăn, có thể làm ta chán nản vì không biết đúc kết các yếu tố tìm ra thế nào, do đó dễ bị sai lầm. Nhiều khi ta đành phải chờ sự việc xảy ra mới thấy rõ cái hay của tử vi, và vì thế tôi thấy học tử vi không gì hay bằng việc chiêm nghiệm thật nhiều lá số mà mình đã theo dõi. Chứ nếu chỉ cố học thuộc các câu phú hoặc nguyên tắc giải đoán thì chẳng bao giờ có thể giải đoán được vững vàng.

BẢNG GHI TÍNH CHẤT CÁC SAO
PHƯƠNG HƯỚNG, ÂM DƯƠNG, HÀNH VÀ SỰ MIẾU VƯỢNG HAY HÃM TÙY THEO VỊ TRÍ – SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI ĐOÁN LÁ SỐ TỬ VI
ANH VIỆT
Chúng tôi đã trình bày nguyên tắc chính để luận đoán : 1 ngôi sao chỉ có ảnh hưởng tốt nếu hợp Âm Dương, hợp Phương hướng và hợp hành với cung (nghĩa là Hành của cung phải sinh hành của sao chứ không phải là khắc sao); nghĩa là sao cần được miếu, vượng, đắc chứ không phải hãm địa. hơn nữa, hành của sao lại phải sinh cho hành của mệnh. Đối với Thân cũng vậy. Nếu hành của sao khắc với hành của Mệnh, Thân thì xấu: kể như sao đó không có ảnh hưởng gì đối với con người, dù rằng sao đó ở chỗ miếu vượng
Đó là về sao. Về Cung: mỗi cung có 1 Hành, Hành của cung phải sinh cho hành của mệnh mới tốt (ví dụ người mệnh Thủ, cung mệnh lại sinh hành của cung là kém – gọi là sinh xuất có sinh nhưng mệnh bị tiết bớt, kém đi). Nguyên tắc đó cũng quan trọng khi đoán đến đại vận và tiểu vận. Như tiểu vận đến 1 cung, mà hành của cung đó sinh cho hành của mệnh, là có 1 yếu tố tốt. Như người mạng Hỏa, đại vận hay tiểu vận đi vào cung Mộc là tốt, vì Mộc sinh cho Hỏa, bồi dưỡng them cho Hỏa
SINH & KHẮC
Kim sinh Thủy
Thủy sinh Mộc
Mộc sinh Hỏa
Hỏa sinh Thổ
Thổ sinh Kim

Kim khắc Mộc
Mộc khắc Thổ
Thổ khắc Thủy
Thủy khắc Hỏa
Hỏa khắc Kim

VÒNG LỘC TỒN TRÊN LÁ SỐ TỬ VI
QUAN TRỌNG SỐ 2 SAU VÒNG THÁI TUẾ
TRẦN VIỆT SƠN

Sauk hi viết các kinh nghiệm của cụ Thiên Lương về vòng Thái Tuế để giải đoán những nét chính về mệnh than và hạn, chúng tôi lại được nhiều vị lão thành cho biết rằng “Nắm được vững đủ 3 vòng Thái Tuế, Lộc Tồn và Trường Sinh là nắm được trọn lá số Tử vi, ít nhất là trong những nét đại cương. Ngoài ra, có những bạn đòi hỏi sự dẫn giải tiếp về vòng Lộc tồn và vòng Trường Sinh nên chúng tôi đã không ngần ngại khẩn cầu cụ Thiên Lương cho những kinh nghiệm của cụ về vòng Lộc Tồn. Và cụ đã giải thích những kết quả của công trình nghiên cứu và chiêm nghiệm của cụ qua mấy chục năm say sưa với những lá số. Sau đây, với sự bằng lòng ủa cụ Thiên Lương, chúng tôi xin trình bày về vòng Lộc Tồn để đền đáp lại những ước vọng của quý vị độc giả

SỰ QUAN TRONG CỦA VÒNG LỘC TỒN
Trong tử vi, các bạn đều biết có 3 vòng sao: Thái Tú, Lộc Tồn và Trường Sinh. 3 vòng saoo đó rất quan trọng và được đặc biệt an riêng ở dưới các cung như đã thấy trên các lá số cổ (gần đây, vì những hiểu biết thất lạc đi hoặc vì các bạn thích tử vi không có thời giờ nghiên cứu và an sao theo các bản lập thành cho nên cách an sao cũng như cách giải đoán bị sai lạc).
Một bằng chứng cho sự quan trọng của 3 vòng đó là mỗi vòng được an theo 1 cách: vòng Thái Tuế an theo địa chi của năm sinh, Vòng Lộc Tồn an theo thiên can của năm sinh và Vòng Trường Sinh bắt nguồn từ Nạp âm
Người ta cũng biết rằng Thiên Can của năm sinh rất quan trọng trong việc giải đoán vận mạng. Ví dụ như tuổi Giáp Thân gặp năm Mậu Dần thì rất kị, xấu (như ốm nặng) là vì Giáp Mậu kị nhau, Dần Than cũng kị nhau, cho nên không thể khinh thường hàng can của năm sinh, là gốc xuất phát vòng Lộc Tồn
Các sách đã không giả rõ về các vòng Lộc Tồn, Thái Tuế, Trường Sinh, có thể vì các sách cổ thiếu sót hoặc vì các vị làm sách muốn giấu nghề, và tự dành cho mình những bí quyết tối yếu để nắm vững lá số. Trongmuc5 tiêu truyền bá để lẽ huyền vi của lý số khỏi bị thất lạc, cụ Thiên Lương đã cho chúng tôi biết các bí quyết do cụ nghiên cứu tìm ra và chiêm nghiệm, lại còn cho phép chúng tôi phổ biết, thật chúng tôi biết ơn vô cùng.
Nhân đây, chúng tôi cũng xin giản lược nêu trước 3 ý nghĩa chính của 3 vòng:

– Vòng Thái Tuế – quan trọng số 1 : cho biết về tư cách con người và sự thành đạt theo ý nguyện dễ dàng hay không. Ngoài ra còn chỉ rõ về thời gian (đại vận) thành đạt đắc cách trong đời

– Vòng Lộc Tồn – quan trọng số 2 : chỉ về lộc trời : tiền của và hạnh phúc. Được lộc trời thì an hưởng, không được thì có thể có nhiều tiền mà không hợp cách hoặc không được lâu bền

– Vòng Trường Sinh – quan trọng số 3 : chỉ về sức khỏe. Ai cũng biết rằng sức khỏe là yếu tố quan trọng trong đời. Có công danh, tiền bạc nhiều mà không sức khỏe cũng vất đi

CÁCH AN VÒNG LỘC TỒN – theo THIÊN CAN CỦA NĂM SINH

– GIÁP : LỘC TỒN tại DẦN

– ẤT :…………………..MÃO

– BÍNH MẬU:…………TỊ

– ĐINH KỶ:……………NGỌ

– CANH:………………THÂN

– TÂN:………………….DẬU

– NHÂM:………………HỢI

– QUÝ:………………..TÝ

An Lộc Tồn xong, cứ Dương Nam, Âm Nữ theo chiều thuận; Âm Nam, Dương Nữ theo chiều nghịch, an các sao kế tiếp nhau, mỗi cung 1 sao:

– LỘC TỒN

– LỰC SỸ

– THANH LONG

– TIỂU HAO

– TƯỚNG QUÂN

– TẤU THƯ

– PHI LIÊM

– HỈ THẦN

– BỆNH PHÙ

– ĐẠI HAO

– PHỤC BINH

– QUAN PHÙ

VÀI NGUYÊN TẮC ĐẦU TIÊN ĐƯỢC DÙNG ĐỂ GIẢI ĐOÁN VỀ VỊ TRÍ VÒNG LỘC TỒN
Như quý vị đã biết, trong việc giải đoán, yếu tố âm dương phải được coi là quan trọng nhất, rồi đến yếu tố ngũ hành. Bỏ 2 yếu tố đó thì sự giải đoán sẽ sai hết
Về Âm Dương của thiên can, chúng ta biết như sau:

– DƯƠNG: GIÁP – BÍNH – MẬU – CANH – NHÂM

– ÂM : ẤT – ĐINH – KỶ – TÂN – QUÝ

Âm Dương của hàng chi như sau :

– ÂM : TÝ – DẦN – THÌN – NGỌ – THÂN – TUẤT

– DƯƠNG: SỬU – MÃO – TỊ – MÙI – DẬU – HỢI

Nạp âm của năm bao giờ cũng ghép 1 thiên can Dương với 1 địa chi Dương, hoặc 1 thiên can Âm với 1 địa chi Âm. Ví dụ : GIÁP TÝ, GIÁP DẦN, MẬU TÝ, NHÂM THÌN (cùng Đương); ẤT SỬU, ẤT MÃO, ĐINH HỢI, QUÝ MÃO (cùng Âm) chứ không bao giờ 1 thiên can Dương đi với 1 địa chi Âm hoặc 1 thiên can Âm đi với 1 địa chi Dương

LỘC TỒN THEO CÁC SÁCH
Các sách cổ cho biết rằng, Lộc To062n chủ về quyền tước, tài lộc, phúc thọ. Lộc tồn là lộc tinh (cho tài lộc), là phúc tinh (cho phúc, giải nạn tai), cũng chủ về sự cô độc (ít bè bạn, tâm tính thâm trầm cô độc)
Hầu hết các sách cổ cho biết rằng Mệnh có Lộc Tồn hay được Lộc Tồn chiếu là được ăn về Lộc tồn. Lộc tồn ở các cung khác thì bổn mạng của đương số không được
Nên hiểu rằng Lộc Tồn được an do thiên can, là Thiên lộc tức là lộc trời, lộc mà con người được hưởng chứ không phải là lộc nhất thời, lộc độc địa hoặc là lộc tạo nên do hối lộ, do ăn cắp, do sự bóp cổ, vặn hầu người khác. Hóa Lộc là lộc do bàn tay người tạo ra
Kiểm điểm ảnh hưởng của Lộc tồn trên nhiều lá số, chúng tôi không thấy hẳn đúng như vậy. Trên 1 lá số của người bạn, Lộc tồn đóng ngay tại mệnh, ngoài ra không còn cách giàu có nào khác, người bạn đó trúng số độc đắc nhưng chỉ trong hơn nửa năm, người bạn đem tiền ra làm ăn bị lỗ lã, hoặc bị người lừa dối, tiền của mất hết. 1 người quen khác cũng có Lộc tồn chiếu mệnh, tiền vào như nước nhưng là tiền tạo được do hối lộ, rồi người đó ra tòa lãnh án, mất luôn cả tiền, cả vợ. Nếu thật Lộc tồn là lộc trời mà như vậy thì không đáng ham chút nào. Lộc trời phải là lộc được hưởng đàng hoàng, ngay chánh và lâu dài. Thì đây, qua kinh nghiệm của cụ Thiên Lương, chúng tôi được biết rằng không cứ có Lộc tồn đóng tại Mệnh hay chiếu Mệnh mà được hưởng tất cả sự tốt đẹo của sao đó, chứ không phải cứ đến hạn có Lộc tồn là được hưởng

NGUYÊN TẮC CHÍNH ĐỂ ĐƯỢC ẢNH HƯỞNG THIÊN LỘC CỦA LỘC TỒN
Nguyên tắc chính để 1 đương số được ảnh hưởng thiên lộc (tức tốt nhất) của Lộc tồn là cung tuổi phải ở thế tam hợp với cung có Lộc tồn
Quý vị xem các bài giải đoán về vòng Thái Tuế hẳn đã biết cung tuổi. Như người tuổi Ngọ thì cung tuổi trên lá số là cung Ngọ.

– ÁP DỤNG VÀO NGƯỜI TUỔI GIÁP:
Tuổi Giáp, Lộc tồn tại Dần. 3 cung ở thế tam hợp là Dần Ngọ Tuất.Vậy có 3 tuổi Dần Ngọ Tuất mà Lộc tồn ở Dần, tức là 3 tuổi Giáp Dần, Gipa1 Ngọ và Giáp Tuất là được ảnh hưởng tốt nhất của Lộc Tồn. Các tuổi Giáp khác không được hưởngÁP DỤNG VÀO TUỔI ẤT
Tuổi Ất thì Lộc tồn tại Mão. Chỉ có 3 tuổi Ất có cung tuổi ở thế tam hợp với Lộc tồn ở Mão là Ất hợi, Ất Mão, Ất Mùi, được ảnh hưởng tốt nhất của Lộc tồn. Các tuổi Ất Tị/ Dậu/ Sửu không được
– ÁP DỤNG VÀO TUỔI BÍNH
Tuổi Bính, Lộc tồn ở Tị, là Tị Dậu Sửu.. Nhưng không có tuổi nào là Bính Tị/Dậu/ Sửu (kể như có sự khác nhau về âm dương giữa can và chi). Vậy không có 1 tuổi Bính nào mà cung tuổi ở thế tam hợp với cung Tị có Lộc tồn. Tất cả các tuổi Bính đều không được hưởng Lộc tồn.
– CÁC TUỔI ĐINH, MẬU, KỶ, NHÂM, QUÝ
Cùng 1 nhận định với tuổi Bính, các tuổi này đều không có cung tuổi ở thế tam hợp với cung có Lộc tồn (điều này không hẳn có nghĩa là các tuổi đó đều nghèo và không có phúc, vì cũng còn những cách khác)
– ÁP DỤNG VÀO TUỔI CANH:
Tuổi Canh, Lộc tồn ở Thân. Tam hợp là Thân Tý Thìn. Vậy có 3 tuổi là Canh Thân/Tý/Thìn là được ảnh hưởng tốt nhất của Lộc tồn.

***TỔNG KẾT:
Trong số 60 tuổi của 1 Hoa Giáp , chỉ có 12 tuổi được ảnh hưởng tốt đẹp nhất của Lộc tồn, đó là :

– GIÁP DẦN, GIÁP NGỌ, GIÁP TUẤT

– ẤT HỢI, ẤT MÃO, ẤT MÙI

– CANH THÂN, CANH TÍ, CANH THÌN

– TÂN TỊ, TÂN DẬU, TÂN SỬU

MỘT SỰ TRÙNG HỢP CHO NHỮNG NGƯỜI ĂN LỘC TỒN
Có 1 sự trùng hợp đặc biệt là cả 12 tuổi nói tên đều được ăn vòng Thái Tuế, tức là đều có Thía tuế tại Mệnh hay tam hợp mệnh (không phải ở thế xung chiếu, tức chính chiếu; ở thế xung chiếu lại hỏng) (xin xem bài kinh nghiệm vòng Thái Tuế)
Cũng có thể nói rằng thế đứng của Lộc tồn của những người trong 12 tuổi trên được là tốt nhờ vị trí của Thái tuế tam hợp với cung tuổi

NHỮNG NGƯỜI CÓ LỘC TỒN TẠI MỆNH HAY CHIẾU MỆNH
Ngoài 12 tuổi trên ra, còn những người nào được hưởng cái tốt của Lộc tồn? Xin thưa tất cả là các tuổi đều hưởng cái tốt của Lộc tồn nếu cung Mệnh được ở thế tam hợp với cung có Lộc tồn
Như tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý không có ai được hưởng thế thiên l6o5c của Lộc tồn, như trong tuổi Giáp, có 3 tuổi Giáp Thân/Tý/Thìn không ăn ảnh hưởng của thiên lộc đó, nhưng nếu cung Mệnh đóng tại Dần Ngọ Tuất, tức là ở thế tam hợp với cung Dần có chứa Lộc tồn thì đương số cũn được hưởng lộc tồn, nhưng sự hưởng này đã được giảm kém. Theo các kinh nghiệm xét trên lá số, những người hưởng Lộc tồn tại mệnh hay chiếu mện ở thế tam hợp là:

  • Những người hưởng Lộc tồn trong nghịch cảnh
  • Hoặc được hưởng Lộc tồn không phải do nghịch cảnh những không được bền
  • Thế nào là hưởng Lộc tồn trong nghịch cảnh? – Xin hãy biết về những người hưởng lộc tồn như là thiên lộc: thường đó là những người làm ăn cần cù, chân chính, tự sức mình mà tiến lên, không làm hại ai, gây dựng được sự nghiệp về tiền tài, không mất mát và rồi được hưởng lâu dài. Còn những người hưởng Lộc tồn tại Mệnh hay chiếu mệnh ở thế tam hợp là những người hưởng Lộc tồn ở thế nghịch cảnh, nghĩa là không được bình thường như những người vừa kể. Những nghịch cảnh đó có thể như sau:

– Hưởng lộc nhưng trong 1 thế nghịch cảnh của gia đình

– Hưởng lộc nhưng trong 1 thế phản trắc, không được người đời chấp nhận (như những người đi với địch mà làm giàu)

– Hưởng lộc nhưng có làm hại người khác (biển thủ, nhận hối lộ, tham nhũng)

– Hưởng lộc mà không được bền như trúng số hoặc ăn nên làm ra bất thường, nhưng rồi tiền bạc cũng mất hết. Mà cái sự hết này là do số mạng, tự nhiên tới hoặc làm ăn bình thường mà lỗ lã và hết tiền, chứ không cứ là do làm ăn bất chính

– Và dĩ nhiên là trong các trường hợp hưởng lộc ở thế nghịch cảnh như kể trên thì sự hưởng lộc chẳng lâu bền

 

LỘC TỒN Ở THẾ NHỊ HỢP VỚI MỆNH
Như người tuổi Bính, Lộc Tồn tại Tị là không ăn Lộc tồn với ảnh hưởng thiên lộc. Nhưng nếu Mệnh của người đó đóng tại Thân, tức nhị hợp thì cũng được hưởng lộc tồn, nhưng chỉ được 1 chút thôi

KIỂM ĐIỂM
1 kinh nghiệm nêu lên bắt buộc phải có những kiểm điểm. Và chúng tôi đã có những kiểm điểm trên các lá sốtrong tay chúng tôi (những người trong gia đình, bạn bè). Dĩ nhiên chúng tôi đã lựa chọn những người trong tuổi. Chúng tôi cũng kiểm lại những lá số của danh nhân, cổ nhân mà cụ Thiên Lương đã giải đoán ở những khía cạnh trên giai phẩm KHHB. Và chúng tôi mới hiểu những điều mà cụ nêu lên (trước kia, đó là những điều bí hiểm của Lộc tồn)
Chúng tôi đã thấy có những lá số mà lộc tồn vừa ở thế tam hợp, Mệnh cũng ở thế tam hợp với Lộc tồn. Như 1 ông Canh Thân, Mệnh tại cung Thân. Ông đó vừa được ảnh hưởng thiên lộc của Lộc tồn, vừa được hưởng lộc tồn tại mệnh. Như thế ảnh hưởng của Lộc tồn được tăng cường
Chúng tôi vừa trình bày kinh nghiệm về lộc tồn, nhưng chưa đề cập đến Vòng sao lộc tồn. Đó là đề tài trong 1 giai phẩm KHHB khác…..

THỬ SO SÁNH 2 LÁ SỐ TỬ VI CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN VĂN BÔNG VÀ KHỔNG MINH
– CHỈ TẠI KHÔNG ĐƯỢC TUẦN TRIỆT LÂM ĐÚNG CHỖ MÀ HỎNG MẤT 1 LÁ SỐ TỬ VI HIẾM CÓ

MỸ TÍN

Trong KHHB kỳ E.2 có đăng 2 lá số tử vi của giáo sư Nguyễn Văn Bông và Khổng Minh do cụ Thiên Lương an sao và luận giải
Việc mà tôi gọi ở đây là so sánh 2 lá số đó, thật ra cụ Thiên Lương đã làm rồi, cụ làm 1 cách uyển chuyển, uyên bác và tế nhị. Nay tôi xin được làm cái công việc đó ở 1 trình độ tử vi thấp hơn, phổ thông hơn, nhằm đối tượng vào các độc giả trẻ đang học tử vi, đang sưu tập những kinh nghiệm, những kiến thức tử vi đơn giản và dễ nhớ. Chính tôi cũng ở trong hàng ngũ những độc giả đó và tôi rất lấy làm hân hạnh nhân dịp này nếu được các vị cao minh chỉ giáo them cho
Lá số Khổng Minh: ngày 10 tháng 4 giờ Tuất, năm Tân Dậu

Lá số của GS Bông : ngày 25 tháng 4 giờ Tuất, năm Kỷ Tị

SO SÁNH Ở CUNG MẠNG:
Khổng Minh được cách Nhật Nguyệt tịnh minh, đó là cách số của các vị quân sư, các vị cố vấn lớn luôn luôn ở gần và phụ tá các vị nguyên thủ quốc gia (tá cửu trùng ư kim điện)
GS. Bông cũng có Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi chiếu mệnh nhưng không được hưởng cách Nhật Nguyệt tịnh minh bởi vì Thái Âm ngộ Tuần nên cách đó bị phá. Trong trường hợp này, quý cách Nhật Nguyệt tịnh minh nếu không bị chuyển cát thành hung, chuyển tịnh minh thành vô minh thì ít ra cũng bị suy giảm 1 phần lớn ảnh hưởng tốt
Cung Mệnh của GS.Bông hơn cung mệnh của Khổng Minh,được những sao Thai Tọa (đồng cung), Quang Quý và Hóa Khoa ở hợi, Mão chiếu lên, nhưng cũng chỉ hơn ở trong tình trạng cách chính NN tịnh minh bị phá. GS>Bông thua Khổng Minh ở 2 sao Hóa Quyền (cung Thân) và Hóa Lộc ở Di. Hóa Lộc của Khổng Minh bị Không Kiếp và Tuần phá mất 1 phần ảnh hưởng tốt, cho nên Không Minh có thể nghèo nhưng bù lại Nhị Không (Địa Không và Tuần) ở đây lại hỗ trợ đắc lực cho 1 mệnh cung VCD được Nhật Nguyệt chiếu
Cung Mệnh của GS.Bông còn có Kình Dương tọa thủ đắc địa (văn tài xuất chúng), nhưng 1khi đã liên lạc và tập họp ảnh hưởng với cả 1 phe đảng hung tinh (Kình Đà, Không Kiếp, Tang Hổ, Tuế Phù, Hỏa Tinh…) cũng như chính tinh (Thiên Đồng, Cự Môn) hãm địa ở Thiên Di thì ảnh hưởng hung hại vẫn không kém phần mạnh mẽ
Cái thế gọi là Mã cùng đồ của GS.Bông ở Qan Lộc nhờ có Tuần nên có vẻ hay hơn Mã cùng đồ của Khổng Minh. Nhờ có Tuần khai thông bế tắc mà Thiên Mã của GS được hưởng trọn kho ngũ cốc (thiên Cơ) ở Tỵ và rau cỏ (Thiên Lương) ở Mão, nhưng chỉ được hưởng trong tình trạng mờ mờ nhân ảnh mà thôi, bởi vì tính cách tịnh minh của Thái Âm ở đây đã bị phá mất rồi. Âu cũng chỉ tại không thích ứng được với cái nghịch cảnh mờ mờ nhân ảnh mà đương số đành giữa đường ngã ngựa
Thiên Mã trong cung Quan của Khổng Minh cũng là Mã cùng đồ nhưng lại là 1 chiến mã vì có Tướng Binh, Tả hữu, có Ấn Đới Vượng Quyền, có Phi Liêm, Long Hổ…
Quan Lộc của GS. Bong cũng rất hay, có Hóa Khoa, Quang Quý, Thai Tọa, Tả Hữu….chỉ tiếc rằng bị Tuần khắc chế
Quan lộc của Khổng Minh không bị Tuần khắc chế mà còn có thêm Tướng Binh Ấn Đới…..cho nên sự nghiệp văn cũng như võ mới rực rỡ hơn

CUNG PHÚC ĐỨC
Cung Phúc của Khổng Minh tuy cũng có Cát Hung tinh như Không Kiếp, Khốc Hư, Tuế Hổ, hỏa tinh….nhưng lại có Lộc tồn, Trường sinh, Đế Vượng, Quan Phúc tọa thủ và Hóa Quyền, Hóa Lộc hội chiếu
Cung Phúc của GS. Bông không những có Không Kiếp, Tuế Hổ, Đà Hỏa lại có cả Song Hao (tuy đắc địa nhưng ở Phúc đức thì vẫn là hao tinh), tử, tuyệt, thiếu Hóa Quyền và song Lộc. Triệt ở đây tuy đắc địa nhưng lại khắc bản mệnh cho nên không hóa giải nổi ảnh hưởng quá mạnh của Kình Đà, Không Kiếp, Tang Hổ, Tuế Phù và Hỏa tinh tập trung hung hậu ở Thiên Di và cũng là tiểu hạn 43 tuổi

CUNG THIÊN DI
Trong 2 lá số cùng được cách Nhật Nguyệt tịnh minh, nhưng 1 đã bị phá cách, còn có những điểm sai biệt có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đời của các đương số nằm trong cung Thiên Di. Ở đấy có Cự Môn, Thiên Đồng hãm địa tọa thủ, nhưng ở số Khổng Minh có Tuần hóa giải tình trạng khắc hãm đó, còn ở số GS.Bông thì không. Đã vậy lại còn hội đủ cả hung tinh, sát tinh thì bảo sao không lâm nạn trong khi di chuyển. Như đã nói, tiểu hạn năm Hợi 1971 cũng ở cung Di. Âu cũng tại số

MỘT VÀI KINH NGHIỆM ĐẶC BIỆT
1/ Khi mà 1 trong 4 cung chính – MỆNH, THÂN, DI, PHÚC – hội đủ cả lục sát – KÌNH, ĐÀ, KHÔNG, KIẾP, LINH, HỎA – thì có thể đoán rằng khi đến đại vận xấu đương số nếu không yểu tử thì cũng bị hình thương
2/ Đã có lục sát mà còn có thêm Riêu, Hình, Cự, Kị hoặc ở tứ chính, hoặc ở nhị hạn thì cũng có thể quyết đoán rằng đương số không thể tránh khỏi những cái chết bất đắc kỳ tử thê thảm
3/ Hai trường hợp kể trên chỉ có hoặc là Tuần, Triệt hoặc là Tử Vi, Thiên Phủ miếu vượng hội với tam hóa và nhiều sao cứu giải đóng ngay ở cung hung hại thì mới có hy vọng qua khỏi. Nhưng dù có thoát chết thì cũng bị hình thương, bị tù tội hay tàn tật

TAM HÓA CỦA HAI SỐ
Tam hóa ở số Khổng Minh đắc dụng hơn ở số GS. Ở số Khổng Minh, Hóa Quyền đóng ở cung bản Thân, hóa Khoa đóng ở Tật Ách, do đó Khổng Minh vừa là 1 chính trị gia có uy quyền khiến cho Lưu Bị phải Tam cố thảo lư, vừa là 1 chiến sĩ gặp nguy nhiều lần mà lần nào cũng qua khỏi
Ở số GS.Bông thì Hóa Quyền đóng cung Nô, như vậy năng lực và Quyền đâu có nằm trong tay. Hóa Lộc đóng ở Tật Ách, GS đâu có hành nghề lương y mà bảo rằng nhờ Hóa Lộc đóng Ách mà GS có thể làm giàu được? Còn lại hóa Khoa thì đóng ở bản Thân, nhờ sao này mà GS có thể là 1 người khôn khéo, có bằng cấp cao….nhưng cung Quan của GS đã bị Tuần phá cách thành ra hóa Khoa ở đây chỉ đắc dụng ở 1 vị trí bị giới hạn

MỘT LUẬN ĐOÁN VỀ QUYỀN CỦA CON NGƯỜI
Cụ Thiên Lương khi luận giải 2 lá số này, cụ có ý tiếc cho GS. Bong vì theo cụ thì đại hạn 45-54 mới là đại hạn tốt của đương số, vậy mà mới chỉ nhập hạn 35-44 đương số đã bị SPT hãm địa và ở tiểu hạn năm Hợi (1971) có Đồng Cự hãm, Không Kiếp, Kình Đà, Cơ Hỏa…nhận chìm đương số xuống hố sâu
Ý kiến cụ Thiên Lương trên đây rất đúng, tôi xin mạn phép được phụ giải thêm rằng nếu GS. Bông khi về nước ông cứ âm thầm hoạt động trong bong tối, ông sẽ không bị nạn, bởi vì cung Quan của ông chỉ đắc dụng trong tình trạng âm thầm khi gặp phải đại vận xấu, Nguey6t5 miếu vượng ngộ Tuần làm gì còn có tình trạng gọi là tịnh minh cho ông hoạt động nữa. GS người Âm Nam, mệnh đóng ở cung Âm, thêm Thái Âm cư Quan cũng ở cung Âm miếu vượng nhưng bị Tuần phá cách làm sao GS có thể còn có đủ âm công để đương đầu ngang ngửa với Thất Sát ở Đại hạn 35-44 được? Thất Sát là dương Kim khắc Âm Mộc, GS âm nam Mộc mệnh, Khổng Minh cũng Âm nam Mộc mệnh nhưng Thất Sát ở số Khổng Minh bị Triệt thành rat hay vì dìm Khổng Minh xuống hố sâu như đã dìm GS thì lại được Triệt chuyển hung thành cát trợ đắc lực cho nghiệp của Khổng Minh
Như đã bàn rồi, cung Mệnh của GS có Kình Dương nhập miếu tọa thủ, do đó GS có văn nghiệp đáng kể, nhưng khi gặp phải Đại tiểu hạn xấu thì Kình Dương vẫn kết hợp với hung tinh tự tập đông đảo ở Thiên Di để đem lại tai họa cho đương số. Cung Di của Không Minh cũng có hung tinh tọa họp nhưng lại bị Tuần khắc chế. Có thể nói rằng sự khác biệt rõ rang và quan trọng nhất của 2 lá số nằm tại cung Di, nhưng nếu cung mệnh của GS đừng có Kình Dương thì có lẽ GS sẽ không xuất chính khi thời cơ chưa đến, GS sẽ kiên nhẫn hoạt động âm thầm cho qua khỏi đại hạn 35-44 SPT hãm

NHƯNG…..và….NẾU
Nhưng nếu không có Kình Dương thì lại sợ rằng văn tài và học lực của GS kém sắc bén, kém rực rỡ đi chăng?.
Xin thưa không, Nhật Nguyệt, Thai Tọa, Quang Quý, Tả Hữu và Khoa thừa sức giúp GS đoạt được cái bằng thạc sĩ rồi. Kình Dương đành rằng có đóng góp ảnh hưởng tốt vào học nghiệp của đương số nhưng vì là hung tinh, là kiêu tinh nên Kình Dương xâm phạm đến những đức tính kiên nhẫn và khiêm tốn cố hữu của GS. Nguyên bản tính của Kình Dương dù miếu hay hãm vẫn là kiêu (cao), là dương lên, vùng lên. Một giọt nước đâu có đáng kể nhưng khi rớt xuống 1 ly nước đầy thì lại có sức làm tràn ly nước. Nếu Kình Dương của GS ở chỗ hãm địa thì lại càng nguy hiểm, chẳng khác gì Kình Dương cư Ngọ của lá số đại văn gia Nguyễn Tường Tam
Nhưng nếu cung mệnh của GS vẫn có Kình Dương và nếu Tuần Triệt cũng đóng ở những vị trí giống như lá số Khổng Minh thì số phận của GS sẽ ra sao?
Xin thưa, GS sẽ hiển đạt rực rỡ hơn Khổng Minh, bởi vì Kình ở đây sẽ biến thành 1 sao Hóa Quyền thứ 2 nằm ngay ở bản mệnh của đương số. Chỉ ngại 1 điều là khi Đại hạn đến cung Mão, người có Kình thủ Mệnh (dù đắc địa) thường sợ bị hung họa, nhưng nếu trường hợp của GS nếu được Tuần Triệt nằm cùng những vị trí giống như số Khổng Minh thì không có gì phải sợ. hơn nữa GS mệnh Mộc, ở đó có song Hao đắc địa và Hóa Khoa nên không sợ hạn hành đến cung Chấn (Mão)
Nếu số của GS cũng có Tuần ở Thiên Di thì không những GS được hưởng trọn vẹn cách Nhật Nguyệt tịnh minh mà còn được hưởng thêm cả ảnh hưởng cao quý sang suốt của 2 bộ sao Thai Tọa, Quang Quý. Khổng Minh không có 2 bộ sao này
Mặt khác Tuần ở Di cung sẽ hóa giải ảnh hưởng hung nguy của Kình Đà, Không Kiếp, Tuế ,Hổ, Tang, hỏa…Một khi đã được Tuần hóa giải hết ảnh hưởng ở cung Di thì Kình Dương ở Mệnh sẽ hướng thiện, quy chính để kết hợp ảnh hưởng văn tài với bộ Thai Tọa, Quang Quý, hóa Khoa tạo cho đương số 1 sự nghiệp hiển hách mà Khổng Minh không thể so sánh nổi. Nếu Mệnh còn có thêm Khôi Việt nữa thì đó là cung mệnh của vị nguyên thủ quốc gia
Kinh nghiệm đáng ghi:
4/ Kình Dương nhập miếu hội với Thai Tọa, Quang Quý và Khoa sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ tương đương với Hóa Quyền hội Khôi Việt, Xương Khúc
Nếu ở số GS.Bông cũng có Triệt ở Đại hạn 35-44 thì ở hạn này sự nghiệp của GS cũng đã hiển hách lắm. Triệt ở đây sẽ biến được SPT thành những trợ tinh đắc lực cho bản mệnh. Cung Phúc của GS 1 khi đã thoát được Triệt cũng sẽ trở nên phong quang khoản khoái hơn bởi vì Triệt ở đây chẳng khác gì 1 cái gò “con Kim” có hình gươm dao ngăn chận hay làm đứt long mạch của 1 ngôi âm cơ có ảnh hưởng mạnh mẽ nào đó

LÁ SỐ VÀ CUỘC ĐỜI CỦA NỮ DV NGỌC SƯƠNG
THIÊN CƠ

KHÁI LUẬN MỆNH THÂN CỤC
Tuổi âm hỏa, mệnh lập tại cung Sửu thuộc âm Thủy là đất âm thấp, tính theo vòng cục, đây là Thủy địa (tuổi Kỷ, cung này thuộc Đinh Sửu là Giản hạ Thủy), do đó Hỏa Mệnh bị chiết giảm, khiến nên buổi thiếu thời gặp nhiều long đong từ học vấn đến tình duyên
Thủy cục, than cư Tài Bạch tại Đậu thuộc Kinh, tuổi Kỷ theo vòng Cục đây là cung Quý Dậu thuộc Kim địa, nhờ vậy mà Thủy cục được tương sinh. Hiềm vì cung này bị Triệt xâm nhiễu Thiên Phủ là nam chính tinh vốn không ưa Triệt, thành thử trước 32 luôn bận tâm vì vấn đề tiền bạc hao tán
Mệnh có Tướng Phủ hội Long Phượng hổ Cái phùng Tả Hữu Tuế Mộc, Hỉ giáp Xương Khúc, Thai Tọa là có năng khiếu về diễn xuất và nổi danh trên đường phục vụ nghệ thuật. Vì gặp Kình Đà hội Hỏa Linh, lưỡng Phá xâm nhiễu khiên danh vọng nhiều nỗi thăng trầm. Nhất là trong vòng đại hạn 12-21 – gốc ở cung Phụ Mẫu, bị nhóm hung tinh hình Diêu Cô Quả Kiếp Kị phá tán, đương số phải gián đoạn sự học, rời quê lên đô thành tự lập. Nhờ có Đồng Lương Khoa Lộc phùng Thiên Nguyệt Đức, ngộ hồng Hỉ cho nên đường tình duyên tuy có lận đận dở dang đôi lần nhưng vẫn vươn lên, cố gắng lần bước theo con đường nghệ thuật. Dù buổi đầu gặp nhiều bước gập gềnh rất dễ sa chân nhưng Ngọc Sương cũng đã vượt lên tự tạo cho mình 1 chỗ đứng khiêm tốn trên lĩnh vực diễn xuất điện ảnh và thoại kịch truyền hình nhờ Khoa, Lộc ngộ Tướng Ấn, Thanh Long, Lưu Hà và Thiên Nguyệt Đức phúc Thiên Phúc, Văn khúc, Ân Quang)

NHỮNG CUNG NỔI BẬT

– Cung Tài bạch: lập tại Dậu thuộc âm kim có Thân cư, đắc Long Phượng Hổ Cái hội Tả Hữu phùng Tướng Phủ ngộ Lộc hỉ. Đáng lẽ đương số sống trong cuộc đời nhung lụa và tiền bạc đầy đủ từ tấ, bé nhưng này bị Triệt xâm phạm Phủ và Lộc ngộ Song Hao , trước 32 tuổi Triệt còn hung hãn làm đương số phải khổ tâm, bận trí vì vấn đề sinh kế tiền nong. Từ 32 tuổi trở đi, Triệt đã giảm sự cản trở, bấy giờ Tướng Phủ Lộc Hỉ phát triển tinh lực dồi dào. Ngọc Sương sẽ ga75p nhiều may mắn về tiền bạc và danh vọng

– Cung Điền Trạch: lập tại Thỉn bị La Võng ngộ Quả Tú, Phục Binh, Linh Tinh, Địa Giải tuổi trẻ lận đận về nhà cửa, tiền bạc. Từ 32 tuổi bọn hung tinh hết khả năng lực phân tán, bây giờ ảnh hưởng tốt đẹp của Nhật Nguyệt tịnh minh hội Quang Quí Khôi Việt mới thoát khỏi hôn ám của sao mộc, Ngọc Sương sẽ có nhà đất khang trang

NHỮNG TIỂU HẠN ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG NGHỆ THUẬT

– Năm Canh Tuất (1972 – 22t): hạn đến cung Tử, có Nhật Nguyệt tịnh minh ngộ Quang Quí, Khoa, Lộc, hồng Đào, thiên Nguyệt Đức phùng Thiên Phúc quý nhân. Đồng Lương miếu vượng hội Hồng Loan, Văn Khúc. Gốc đại hạn vừa lên cung Phúc, có Lộc Mã, hổ Quyền, Vũ Sát. Ngọc Sương được mời đóng phim Sám hối

– Năm Tân hợi : hạn vào cung Tài trùng phùng với lưu đại hạn và trực giao với gốc đại hạn. Năm nay hội đủ Long Phượng, Cái hổ, mộc hỉ, Lộc tướng, Phủ, tả Hữu, Thiên Quan quý nhân, NS được mời thủ diễn 1 vai trong phim 5 chàng Hiệp Sĩ

– Năm Nhâm Tí : hạn vào cung Ách VCD có Khôi Việt hội Đồng Lương, hội Vượng Khúc, Thai Tọa, Cáo Phụ , hồng Hỉ phùng Khoa, Thiên Quý, Sinh Vượng Thanh Long, Long Đức, Ngọc Sương được mời đóng phim Đất mẹ và liên tiếp đóng phim quảng cáo cho hang AFC, xuất hiện trên khung ảnh truyền hình trong ban kịch Họa Mi của Bích Thủy (vở cái Lục Lạc, Thằng Hề)

LUẬN ĐOÁN TIỂU HẠN NĂM QUÝ SỬU VÀ GIÁP DẦN

– Năm Quý Sửu (25 tuổi) hạn đến cung Di có Tử Phá (Tuần) hội Tả Hữu, Lộc Mã, Quyền Tấu Cái hỉ, lưu đại hạn vào cung Tài Bạch có Long phương Cái hổ, Tưởng Phủ hội Lộc. Năm này Ngọc Sương tuy chật vật vào những tháng đầu năm nhưng từ tháng 4 âm lịch trở đi sẽ gặp nhiều cơ hội may mắn để thăng tiến trên con đường phục vụ nghệ thuật. Tháng 7 sẽ gặp nhiều dịp đi xa rất tốt cho việc hoạt động nghệ thuật. Tháng 9 gặp nhiều cơ hội tốt về tiền bạc và nhà cửa (hạn thánh này vào cung Tử tức có Nhật nguyệt tịnh minh ngộ Quang Quý, niên hạn có Lộc Quyền ngộ Mã Khốc Khách). Tháng 10 trở đi tiền bạc dễ chịu hơn những năm trước

– Tiểu hạn Giáp Dần: hạn vào cung nô, lưu đại hạn cung Tử có Xương Khúc, Thai Tọa, Khoa, Lộc, tướng, Ấn, Quang Quý, Cáo Phụ hội Cự Cơ Tí Ngọ. Tháng Giêng gặp cợ hội thuận lợi trong lĩnh vực nghệ thuật nhưng đề phòng tiểu nhân ám hại gây nhiều tai tiếng, thị phi (hình Diêu ở niên hạn hội Đà Hỏa Liêm Tham ở nguyệt hạn). tháng 2 có quý nhân giúp đỡ đặc biệt về tiền bạc cũng như về cơ hợi may mắn để hợp tác torng lĩnh vực nghệ thuật. Tháng 3 tiền bạc dồi dào. Tháng 4 vấn đề tình cảm dính líu khó dứt, gặp nhiều rắc rối khổ tâm. Tháng 5 coi chừng sự dối trá làm mình chán nản. Tháng 6 cơ hội tốt đẹp trong lĩnh vực nghệ thuật, mọi việc tiến triển tốt đẹp cho đến tháng 8,9,10,11. Riêng tháng Chạp, phải cẩn thận 1 sự phản bội làm phương hại cho danh dự và ảnh hưởng xấu cho bước đường phục vụ nghệ thuật

Tử Vi Việt Nam Sưu Tầm – Theo Tử Vi Lý Số

Chia sẻ.

Bình luận