Sơ luận về Tứ Hóa

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

(Trích bài viết của Thầy TUETVNB)


1. Tứ hóa là Hóa LộcHóa QuyềnHóa KhoaHóa Kỵ. Là thùy tượng của tổ hợp sao trong đẩu số ứng với thời gian. Cho nên, phối hợp tứ hóa để đoán cát hung phải lấy Sao làm thể, Tứ hóa làm dụng.

2. Hóa Lộc – Ngũ hành thuộc Kim, ứng số 4,9 ở phương tây, chủ về mùa Thu. Mùa thu – là lúc vạn vật thu tàng, thông qua gặt hái mà thu lợi. Cho nên Hóa Lộc chủ vất vả, được lợi, tài lộc, thực lộc, hưởng thụ, nhân duyên, giải ách, quý nhân, tình duyên, thông minh và tài nghệ. Khởi đầu của việc tốt (nguyên nhân dẫn tới cái sự tốt).

3. Hóa Quyền – Ngũ hành thuộc Hỏa, ứng số 2.7 ở phương Nam. Hỏa bốc lên mà chủ về nóng nhiệt. Nên Hóa Lộc chủ về thế lực, tranh chấp, thành tựu, nỗ lực phấn đấu, cao ngạo, sĩ diện, giá trị gia tăng, bá đạo, tự phụ, không khuất phục, cầm quyền, tài hoa, giỏi giang, chuyên kỹ thuật, cố chấp, quản lý chặt chẽ, phung phí, ngoại thương, bệnh cấp tính. Hóa Quyền tốt nhất là nên nhập Tài- Quan cung, còn nếu nhập vào Lục thân cung thì dễ xuất sinh tranh chấp, cọ sát.

4. Hóa Khoa – Ngũ hành thuộc Mộc, ứng với số 3,8 ở phương Đông, chủ về mùa Xuân. Mùa xuân thuộc Mộc, trong cái vòng sinh sôi bất tận thì chính là thời điểm manh nha, đâm chồi. Vì thế, Khoa chủ sinh trưởng, giáo hóa, công danh, thanh danh, thiện duyên, quý nhân, giải ách, khoa giáp, danh dự, quý trọng, thanh bạch, thuận lợi, cao thượng, khí chất tốt.

5. Hóa Kỵ – Ngũ hành thuộc Thủy, ứng với số 1,6 ở phương Bắc. Phương Bắc là nơi trời Đông lạnh giá. Vạn vật thu tàng, suy kiệt. Cho nên Hóa Kỵ chủ thu tàng, cất chứa, suy kiệt, không thuận, ẩn trạng, tình nghĩa, đạo nghĩa, quản thúc, bám dính, hung hiểm, dịch mã, tai họa, biến thiên, thua thiệt, tử vong, mê muội, tự ti, tật bệnh, phá tài, lục thân hình khắc, thị phi, quan tụng, tai nạn xe cộ.

6. Hóa Lộc tối kỵ Không Kiếp, Không Vong, Hóa Kỵ – đó là cách “Lộc phùng xung phá”. Rất tốt nếu được cát tinh, quyền tinh, khoa tình hội hợp.

7. Hoa Quyền mà tam hợp có Hóa Khoa, Khôi Việt thì chủ về văn chương, danh tiếng vang xa.

8. Hóa Khoa hội Khôi Việt Xương Khúc chủ về khoa giáp. Nhưng nếu gặp Kình Dương, Hỏa tinh thì dễ vất vả. Khoa hội Kiếp Không, chủ về khoa giáp bất thuận, có tài mà không gặp thời.

9. Hóa Kỵ mà lạc hãm, gặp hại thì càng hung hiểm. Gặp Kỵ tinh hội hợp hay xung phá đều là không tốt. Riêng kỵ tinh xung phá thì lại trở nên lợi hại.

10. Hóa Lộc nhập lục thân cung, thì gia đình tình nghĩa, lục thân tốt.

11. Hóa Quyền nhập lục thân cung, dễ gặp xung đột trong gia đình, nhiều ý kiến.

12. Hóa Khoa nhập lục thân cung thì tình cảm gia đình trước sau đều đẹp

13. Hóa Kỵ nhập lục thân cung, là sự quản thúc, quan tâm, thiếu nợ, là nghiệp quả.

14. Hóa Lộc nhập tài bạch cung, tài nguyên dồi dào, dễ kiếm tiền mà cũng dễ tiêu tiền.

15. Hóa Quyền nhập tài bạch cung, có khả năng quản lý tài chính, vận dụng tài chính.

16. Hóa Khoa nhập tài bạch cung, tài nguyên thuận lợi, việc làm tốt.

17. Hóa Kỵ nhập tài bạch cung, dễ vì tiền mà phiền não, nguồn tài chính cũng không thuận, câu nệ vào chuyện tiền bạc, dễ thành nô lệ của tiền bạc, việc làm tốt.

18. Hóa Lộc nhập Quan Lộc, vận khí cả đời tốt, có nhiều khả năng phát huy trên đường sự nghiệp.

19. Hóa Quyền nhập quan lộc, trong sự nghiệp thường được nắm quyền hành, là cách của ông chủ thực sự.

20. Hóa Khoa nhập quan lộc, Sự nghiệp bình thuận, công việc tốt, hợp với mình.

21. Hóa Kỵ nhấp quan lộc, cả đời gặp vận khí xấu, trên đường sự nghiệp ít nhất phải trải quan một lần khốn đốn mà về sau mới may ra có thành công. Là người rất câu nệ vào sự nghiệp.

22. Hóa Lộc nhập Điền trạch, là người nặng gánh gia đình, nhưng tuổi trẻ đã dễ dàng tạo dựng được sản nghiệp. Cũng là người biết quan tâm, lo lắng đến gia đình.

23. Hóa Quyền nhập điền trạch, thích gia trưởng, thích quản chế từ công việc trong nhà đến gia nhân. Đối với Lục thân thường dễ có tranh chấp. Tuổi trẻ dễ tạo dựng được điền sản.

24. Hóa Khoa Nhập cung Điền trạch, gia trạch bình thuận, trong gia đình, quan hệ trong gia đình tốt, tuổi trẻ dễ tạo dựng điền sản, gia phong nền nếp.

25. Hóa Kỵ nhập Điền trạch, gia trạch không thuận, thường gặp cảnh đau lòng trong gia đình, gia đình không hòa thuận. Phải vãn niên mới tạo dựng được điền sản của chính mình.

26. Họa Lộc nhập tật Ách, là người lạc quan, nhưng tuổi nhỏ thường nhiều tật bệnh.

27. Hóa Quyền nhập Tật ách, là người ngang ngược, tuổi trẻ thường gặp thương tích.

28. Hoa Khoa nhập tật ách, người có phọng độ, tuổi trẻ bình an, ít tật bệnh.

29. Hóa Kỵ nhập tật Ách, là người tự ti, nội tâm, tuổi nhỏ thường gặp nhiều tai ách.

30. Hóa Lộc nhập Phúc đức, là người thích hưởng thụ, tiêu tiền không biết tiếc, tâm tình thư thái, nhưng cũng là người bận rộn.

31. Hóa Quyền nhập Phúc Đức, là người tiêu tiền phung phí, người thường béo đầy, tâm không nhàn.

32. Hóa Khoa nhập Phúc đức, là người tiêu tiền có kế hoạch, tâm tình nhàn tản, bình hòa.

33. Hóa Kỵ nhập Phúc đức, không cso tiền tiêu, có tiền cũng không dám tiêu, cả đời vất vả, không một phút thanh nhàn.

34. Hóa Lộc nhập Thiên Di, đi ra ngoài dễ gặp quan hệ tốt

35. Hóa Quyền nhập thiên di, ra ngoài dễ tranh chấp, nhưng cũng rất dễ thành công, có quyền hành.

36. Hóa Khoa nhập Thiên Di, đi ra ngoài được bình thuận, gặp gỡ quan hệ tốt.

37. Hóa Kỵ nhập Thiên Di, đi ra ngoài bất thuận, lý hương lập nghiệp thì tốt, (càng xa càng tốt).

38. Hóa Lộc nhập Mệnh, Thông Minh, tự lập, quan hệ tốt, có khả ăng giải trừ tai ách.

39. Hóa Quyền nhập Mệnh, tính tự cao, phóng khoáng, chuyên quyền, cơ trí, không dễ tiếp thu ý kiến của người khác, hay chủ quan, thích quản chế tất cả mọi chuyện.

SÁT PHÁ THAM và TỨ HÓA

Ngày xưa, cổ nhân thường không thích cách Sát Phá Tham. Phần nhiều đều cho nó là hung cách hoặc hạ cách.

Vì xưa cho rằng :
Tham lang mê hoa luyến tửu
Phá quân cừu thị lục thân
Thất sát thân ngâm bất phúc

(Tham lang thì thường mê đắm tửu sắc,
Phá quân coi lục thân như kẻ thù,
Thất sát thì hay than vãn mà chẳng có phúc).

Phần nhiều là đều chê bai mà ít khi tán dương. Nhưng trong xã hội hiện đại, nắm được tiên cơ, thành công trong sóng gió – lại là một phương thức rất thích hợp với Mệnh có cách Sát Phá Tham. Thậm chí có người còn cho rằng, có không ít Mệnh của những nhân vật thành đạt, đều là Sát Phá Tham cách. Là những người có ý chí đặc biệt, lại thích nghi được với hoàn cảnh, vì thế dễ dàng tận dụng được cơ hội mà thành công.

Tứ hóa trong Tử vi vốn là một điểm trọng yếu, cho đến nay thì vẫn chưa có lời giải thích thỏa đáng nào cho việc xuất sinh của Tứ hóa. Quan hệ của Sát Phá Tham và Tứ hóa cũng là một quan hệ cơ bản của Tử vi. Nhân lúc rảnh rỗi, thử ghé mắt bàn qua xem thế nào.

Trước hết, trong Thập can hóa diệu thì chúng ta có thể thấy rằng, trong tổ hợp với Tứ Hóa, thì Phá Quân chỉ đi với Quyền, LộcTham lang đi với Quyền Lộc Kỵ. Riêng Thất sát thì không hóa, và Sát Phá Tham không hóa với Hóa Khoa.

Người tuổi Giáp : Phá Quân – Hóa Quyền
Người tuổi Quý : Phá Quân – Hóa Lộc
Người tuổi Mậu : Tham Lang – Hóa Lộc
Người tuổi Kỷ Thang Lang – Hóa Quyền
Người tuổi Quý : Tham Lang – Hóa Kỵ

Với người tuổi Giáp : được gặp tổ hợp Phá quân – Hóa quyềnHóa quyền chủ về quyền hành, hơi có tính chuyên quyền gia trưởng. Phá quân cũng là một sao chủ về cương liệt, rất chuyền quyền, độc tôn. Vì thế mà khi tổ hợp này đứng với nhau, nếu lập vào Mệnh thân thì tuy cũng là một cách quý, nhưng có điểm yếu là hay cố chấp, trong giao tiếp thường thiếu tính mềm dẻo, ôn hòa. Do vậy, cũng rất dễ dẫn đến tranh đấu, sát phạt. Nếu gặp vận xấu hoặc sát tinh hội hợp thì có thể mạng họa vào thân, nếu được Cát tinh trợ giúp thì cũng là kẻ “thân tâm bất nhàn”.

Thành công đối với người tuổi Giáp, mệnh lập Phá quân trong trường hợp này thường xây trong khó nhọc. Trong đời đa phần phải trải qua bôn ba mới thành nghiệp. Tuy nhiên, khi vận đến thì như diều gặp gió, không có gì có thể cản trở.

Trong tổ hợp của Tứ Hóa với Sát Phá Tham, đặc biệt có người tuổi Quý là được cả Phá Quân, Tham lang cùng hóa. Phá – Hóa Lộc, Tham – Hóa Kỵ.

Phá gặp Lộc, các sách tử vi thường cho rằng tốt, nhưng trên một phương diện nào đó thì tổ hợp này cũng cần xem xét cẩn thận. Bởi lẽ khi ấy, Tham lang sẽ gặp Hóa kỵ. Bản thân Hóa Lộc chủ về sinh tài, hưởng lộc. Nhưng bản thân Phá Quân lại là Hao tinh, chủ về hao tán, cho nên khi kết hợp với nhau cũng khó lòng có thể nói là tốt. Phá Quân khó dụng được Hóa lộc, nếu có gặp cách tốt, thì bất quá cũng chỉ là được một giai đoạn đắc tài nhất thời, mà khó giữ đến chung cuộc.

Hơn nữa nếu lập Mệnh Thân là Phá Quân, thì Tham – Kỵ sẽ đóng ở cung Quan. Tham lang vốn không ưa Hóa Kỵ, bản chất của Tham vốn là sao của hư hoa, đam mê, sắc dục. Gặp hóa Kỵ thì giống như trang sách bị đổ mực, không thể toàn mỹ. Nhất là khi đóng cung Quan, tối kỵ gặp Tham – Kỵ rất dễ bị biếm chức, giáng quan.

Giữa Mệnh Thân và Quan lộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong trường hợp này, Mệnh biểu ý hao tán tiền tài, Quan biểu ý đứt gánh công danh. Do đó có thể phác thảo một đời người đầy thăng trầm, trong cuộc đời rất dễ có lần tay trắng. Là kẻ sĩ thì khó tránh khỏi gẫy đổ quan trường, là thường dân thì khó tránh khỏi khuynh gia bại sản. Nếu bị sát tinh xâm phạm, chính tinh lạc hãm thì rất nặng nề, nếu được cát tinh cứu giải thì tuy cũng đỡ được phần nào nhưng cũng khó tránh khỏi bôn ba vất vả…

Tất nhiên, đây mới chỉ là bàn riêng lẻ một góc, cốt yếu nhất vẫn phải là tổng thể toàn tinh bàn mới cho ra được lời giải luận bao quát.

ST – Tuvivietnam – Phongthuythanglong

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

Chia sẻ.

Bình luận