THAM LANG: ĐÀO HOA TỨ MỘ

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

Tham Lang: Đào hoa tứ Mộ

(Tuvivietnam – siêu tầm)
Khi đọc một số sách tử vi Việt ngữ, các bạn thường nghe nói đến sao Đào Hoa đóng ở tứ chính Tý-Ngọ-Mão- Dậu. Sao Đào Hoa đó theo tử vi Trung Hoa gọi là Hàm Trì. Do hóa khí của Tham Lang là Chính Đào Hoa, nên khi Tham Lang đóng ở Thìn-Tuất-Sửu- Mùi được gọi là Đào Hoa Tứ Mộ. Trong chuyên mục này tôi muốn gửi đến các bạn những kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu của tôi cũng như các bậc tiền bối của môn phái tôi về sao Tham Lang khi đóng ở đất tứ mộ Thìn-Tuất-Sửu-Mùi.
Thìn- Tuất- Sửu-Mùi là nơi giao thoa giữa 4 mùa. Thìn là giao điểm giữa mùa Xuân và Hạ, Mùi là giao thời giữa mùa hạ và mùa thu, Tuất là giao thời giữa mùa thu và mùa đông và Sửu là giao thời giữa mùa đông và mùa xuân. Sở dĩ tôi phân biệt các mùa ở đây để các bạn biết rằng sự khác nhau giữa sao Tham Lang khi tọa ở 4 cung tứ mộ như thế nào.


Tham Lang tọa Thìn cung:

Khi sao Tham Lang tọa thủ tại Thìn cung giữ mệnh, tại Thìn cung thì sao Tham Lang ở thế miếu địa. Lúc bấy giờ Quan Lộc tại Thân cung có sao Thất Sát nhập miếu, Tài Bạch cung ở Tý cung có Phá Quân nhập miếu hình thành nên cách cục Sát-Phá- Lang. Thiên di cung sẽ có Vũ Khúc miếu địa xung chiếu. Về tổng quan, nếu ai có cách cục này là dễ được thành công bất ngờ, nhưng sự thành công không đến sớm hơn độ tuổi 3X (X=2,3,4,5,6) tùy theo hành cục là của đương số là gì. Tại sao cách này là cách tốt? Bởi vì Thìn cung là cung của Thiên La, mà hóa khí Tham Lang là Đào Hoa tinh, nhưng Tham Lang nhập miếu rơi vào cung này thì do sự kìm kẹp của Thiên La, Địa Võng, nên tính trăng hoa, đam mê tửu sắc của Tham Lang bị chế giảm đi rất nhiều, lúc bấy giờ tài khí sẽ phát triển mạnh. Thìn là nơi giao thoa của mùa xuân và hạ, lúc bấy giờ tiết trời có sự dung hòa giữa dư ấm còn phảng phất của mùa xuân và cái nắng dịu dàng bắt đầu đến của tiết trời đầu hạ, Tham Lang thuộc hành Dương Mộc đới Thủy, nên Tham Lang tọa Thìn cung được xem là cách cục tốt. Mệnh tạo là người có khả năng quan sát, nhạy bén với hoàn cảnh, có khả năng trù hoạch, tài khí có thể phát mạnh. Mệnh tạo có tài ngoại giao giỏi, giao tiếp rộng rãi với nhiều thành phần trong xã hội. Nếu là nữ mệnh, thì sự nghiệp có chiều hướng thành công tốt, nhưng tình duyên và tình trường gặp không ít bất trắc, vì vậy khi lựa chọn bến đỗ cho cuộc đời mình cần phải đắn đo, suy nghĩ cẩn thận10 lần trước khi quyết định 1 lần. Ngoài ra, khi sao Tham Lang tọa Thìn cung giữ mệnh, thì sao Thái Dương sẽ ở cung Hợi gọi là “Ngọc Tỉ”, tối hãm, sao Thái Âm đến cung Mão gọi là “Phản Bối”, tức là lúc bấy giờ 2 vầng Nhật, Nguyệt điều quay lưng lại với nhau. Nếu như tại đây Thái Dương, Thái Âm điều không cát hóa (tức Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa) hoặc không gặp Tuần Không, Triệt Không, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỉ thì là điều khá xấu khi xét về mối quan hệ với lục thân và sức khỏe của mình. Cần lưu ý cụm từ “mối quan hệ với lục thân” mà tôi đề cập ở trên, không nên hiểu là người đó chửi Cha mắng mẹ hay hỗn láo với anh chị em, chồng, con mà phải nên hiểu là duyên với người thân trong gia đình không được tốt. Đơn cử như là sức khỏe của cha không tốt, cha mẹ không sống gần nhau, cha mất sớm, anh em tật nguyền hoặc anh em nghèo nàn không nhờ vả được anh em. Ngoài ra, do sao Thái Dương hãm địa giữ cung Tật ách nên dễ bị các chứng bệnh liên quan đến thần kinh như đau đầu, choáng đầu, cận thị, mù màu.. nếu là mệnh nữ thì cần lưu ý đến kinh nguyệt không điều, dễ bị bệnh về máu huyết, bệnh phụ nữ… Tình huống cụ thể như thế nào cần phối chiếu với các sao phụ tinh và trung tinh khác để mà xác quyết.
Nếu như mệnh tạo không gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Lộc, Lộc Tồn thì về cơ bản vẫn là mệnh tốt, nhưng đương số không nên mạo hiểm kinh doanh, đầu cơ, mà nên học một nghề hoặc trau dồi một kỹ nghệ nào đó để an thân. Vì bản chất của Sát-Phá-Lang là chủ về biến động, nên nhiều khi mệnh tạo thiếu tài khí mà lại cứ biến động thì sẽ dễ làm khổ thân tâm, đặc biệt là khi hội với Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La.
Khi Tham Lang đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh, mà đối cung không có Tuần Không hay Triệt Không xung chiếu. Thì sẽ hình thành cách Vũ Tham Hỏa hoặc Vũ Tham Linh. Bắt đầu trung niên trở đi nếu kinh doanh làm ăn sẽ hoạnh phát, có tiền tài đột biến do đầu cơ hoặc trúng số, cờ bạc. Tức là có cơ hội rất bất ngờ ngoài dự tính mà tạo nên sự nghiệp, sản nghiệp. Tình huống và mức độ phát tài như thế nào cần phối chiếu với các trung tinh và phụ tinh khác như Long Trì, Phượng Các, Thiên Khôi, Thiên Việt để xác quyết cụ thể. Ngoài ra khi xem đến cách cục hoạnh phát tiền tài thì cần phải xem kĩ cung Phúc Đức. Vì Phúc Đức cung chiếu thẳng vào cung Tài Bạch, tổ hợp các trung tinh hay hung tinh tại cung Phúc Đức có ảnh hưởng rất mạnh đến sự thành bại về tiền bạc của mệnh tạo. Cách cục này nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ hay vây chiếu cũng không làm mất đi tính chất bất ngờ đột phá của Tham Linh hay Tham Hỏa, nhưng tiền tài sau khi phát lên sẽ khó giữ được, có nghĩa là dễ bị mất đi, và cách kiếm tiền cũng khá vất vả.
Cũng cách này, nếu sao Tham Lang hội với Thiên Hình,Thiên Không, Hỏa Tinh , Linh Tinh, thì đây là người có tiền nhưng tính cách thanh bạch. Sau trung niên phát lên ngoài sức tưởng tượng, công danh lên như dìu gặp gió. Nhưng nếu Phúc Đức cung mà hội sát tinh Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La hoặc khi đi vào vận gặp nhiều sát tinh như Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La thì sự nghiệp dễ bị gẫy đổ bất ngờ. Do đó, những ai nếu sở hữu được cách này, cần phải xem kĩ cung Phúc Đức hoặc xem các vận hạn mình đi từ sau trung niên để biết được vận và mệnh mình. Nhưng ngược lại, cũng với cách này mà cung mệnh có Triệt hay Tuần Không tọa thủ, thì mặc dù việc phát đạt không thần tốc và bất ngờ như trên, nhưng sự thành công diễn tiến theo con đường chậm mà chắc, không bạo phát bạo tàn như cách trên.

Sự khác biệt cơ bản giữa các mệnh tạo:
Người sinh năm Giáp: Mệnh tạo này ưa thích đeo đuổi cuộc sống hưởng thụ, lòng coi nhẹ sự nghiệp, đôi lúc vì hưởng thụ mà liều mạng làm việc. Dù vậy, do Phúc Đức cung có Hóa Lộc, Tài Bạch cung có Phá Quân hóa Quyền nên người này có vận hoạnh tài, nhưng tiền tài cũng có sự biến động lớn, từ sau 4X sẽ trở nên khá giả. Mệnh tạo này rất thích hợp vận dụng khẩu tài để hái ra tiền, thích hợp đi du học hoặc lập nghiệp ở xa quê. Đối với mệnh nữ thì lại ít vất vả hơn, bắt đầu từ 2X là có sự hanh thông về công việc, tài vận, nhưng đường tình duyên khá vất vả, nên lập gia đình muộn thì sẽ chế giảm hình khắc, dù vậy, tuổi Giáp mệnh nữ có mệnh tạo này, sẽ gặp nhiều vấn đề về sức khỏe và sinh nở, để tang chồng trước 6X (X=2,3,4,5,6). Đối với người tuổi Giáp, do sao Thái Dương Hóa Kị nhập cung Tật ách, nên duyên với cha mỏng, dễ bị các chứng bệnh đau đầu, thị lực kém, huyết áp cao, dễ bệnh tim mạch, trong cuộc đời có ít nhất một lần bịphụ nữ hoặc đàn ông ruồng bỏ mà trở thành thất tình, sầu khổ.
Người tuổi Ất: Duyên với mẹ và Anh em trong gia đình mỏng, anh chị em nghèo, khó nhờ vả được anh chị em đôi khi còn bị anh chị em lừa dối hoặc gây phiền toái cho mệnh tạo. Nhưng mệnh tạo sẽ kế thừa và giữ được truyền thống, tài sản, gia nghiệp của Cha mẹ, tổ tiên. Đối với Nam mệnh tuổi Ất, sau khi lập gia đình thì sẽ bị vợ nắm quyền điều khiển, con cái sau khi thành gia lập thất chúng sẽ giàu lên và có danh tiếng trong giới kinh doanh, thương mại. Đối với mệnh nữ thì lấy được chồng có học vấn, trí tuệ và có sự nghiệp lớn, sau này con cái thành đạt. Mệnh tạo này, cả nam và nữ điều là người có lòng hiếu sắc, đối với người tuổi Ất Mão, Ất Hợi, Ất Mùi thì tính hiếu sắc cao hơn các tuổi khác. Về công danh, tiền bạc, nam mệnh từ sau 2X sẽ có sự thành công trên đường học vấn, từ 3X trở đi sẽ kinh doanh, xoay chuyển đầu cơ mà phát tài, sau 4X cục diện sự nghiệp có sự thay đổi lớn theo chiều hướng tốt. Đây là người vừa có quyền vừa có tiền. Nhưng do Kình Dương đắc địa tọa tại cung Thìn, chém đứt La Võng, khiến tính tham hoa luyến sắc của Tham Lang không còn bị kìm chế, cho nên cuộc đời khó tránh được hình thương, đau khổ, vì sắc mà mang họa. Đối với nam mệnh tuổi Ất Hợi, Ất Mão, Ất Mùi có mệnh cách này thì khi đi vào độ tuổi 4X sẽ có dan díu tình cảm khác phái, vì sắc mà mang họa. Nữ mệnh cùng tuổi gặp cách này, phần tai họa có chiều hướng nhẹ hơn, nhưng từ sau 4X cũng rất dễ phiền toái do chuyện ong bướm chập chờn.
Người tuổi Bính: Nam mệnh, là người thích hưởng thụ, không thích làm việc, tâm thuật bất chính. Sau trung niên kiếm tiền khó nhọc, tiền đến tiền đi khó tích lũy được. Nữ mệnh sau 3X có nhiều thăng trầm, biến động lớn. Cả nam mệnh lẫn nữ mệnh gặp cách này thì hôn nhân giữa chừng gặp tổn thất, rất dễ bị chia ly, nguyên nhân là do không hòa hợp trong hôn nhân. Nhưng bù lại các tuổi này có con cái hiếu thuận, nhờ được con cái. Nếu cung mệnh có Hỏa Tinh, Linh Tinh không gặp Địa Không, Địa Kiếp thì sau trung niên nhờ đầu cơ, làm ăn mạo hiểm bất chính mà có được tiền tài. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp gia hội thì sau khi phát tài bất chính sẽ mang họa vì tiền tài.
Người tuổi Đinh: Cả nam mệnh và nữ mệnh điều không có duyên với Cha. Khi chưa lậpgia đình thì thường xuyên bất hòa với Cha mẹ. Anh chị em giàu có và nhờ được anh chị em. Sinh con hiếu thuận và con cái có trí thức, danh vọng. Phúc không trọn vẹn, thường lao tâm khổ tứ về tiền bạc, cả nam lẫn nữ mệnh điều gặp phải người bạn đời không trung thành, bị người bạn đời phản bội mà sầu khổ. Sau trung niên có phần phấn phát, nhưng cũng vì tiền tài và tình cảm mà sầu khổ. Nữ mệnh từ 2X-3X gặp nhiều khó khăn trắc trở, sau 3X công việc tiền bạc có phần phát lên, nhưng vẫn thường bị tai nạn về chồng con, có thể vì sắc mà mang họa. Nam mệnh có mệnh cách này cuộc đời có phần thuận lợi hơn nhưng vẫn chủ hôn nhân không thuận. Có học thức, tri thức, có khoa bảng, sau 3X tiền bạc hoạnh phát. Nếu có Linh, Hỏa gia hội không gặp Không, Kiếp thì phát tài mạnh, nhưng do phúc không trọn vẹn, nên cũng vì tiền mà gặp nhiều mất mát trong đời.
Người tuổi Mậu: Nam mệnh là người thông minh, lanh lẹ, có tài ngoại giao, khéo xử lý và thu xếp các việc, nhân duyên với phái nữ tốt, có phúc được hưởng lộc, gia đình bên ngoại thịnh vượng, có duyên với bên ngoại, kém duyên với bên nội, tuổi thọ cao.. Trong độ tuổi 2X-3X dễ bị tai nạn, hình thương. Tài vận từ sau 3X khá thịnh vượng. Nữ mệnh thì từ đại vận 3X trở đi gặp nhiều trắc trở trong công việc làm ăn, dễ lầm đường lạc lối, có thể làm chuyện bất chính.
Người tuổi Kỷ: Thích hợp kinh doanh, buôn bán, lập nghiệp xa quê hương, thành tựu nơi xứ người. Do cung Phúc Đức bấy giờ có cách Hình Kỵ Giáp Ấn nên mặc dù có tiền nhưng lại hay khổ vì tiền, dễ bị tai nạn về tiền, có chức vị và thành công trong xã hội. Ra ngoài xã hội luôn có quý nhân tương trợ, có khả năng diễn thuyết, ngoại giao tốt, rất thích quyền lực và sắc giới. Âm nam tốt hơn Âm nữ, ngoại trừ tuổi Kỷ Mão, các tuổi nữ khác có mệnh cách này phần lớn là không còn con gái khi về nhà chồng, không còn con gái trước 2X và đến đại vận 3X-4X dễ bị tai nạn do tình cảm gây ra. Đối với các tuổi Kỷ Dậu, Kỷ Tỵ và Kỷ Sửu, hôn nhân dễ bị giữa đường tổn thất.Ví dụ như chồng đi lấy vợ bé, thất vọng buồn khổ mà tìm đường đến cái chết, nhưng cuối cùng được người nhà đưa vào bệnh viện Trợ Rẫy cứu chữa lại không chết. Hoặc thấy chồng mình đã ăn “chả”, nên buồn quá cũng đi ăn “nem” cho bỏ tức, và khi Bà ăn “nem” thì Bà lại bị người tặng “nem” lừa thêm một lần nữa nên đau khổ chồng thêm đau khổ. Nhìn chung, đối với người tuổi Kỷ trong đại vận 3X-4X gặp Thiên Lương, Kình Dương nên thường bị tai nạn, tình huống cụ thể cần phải xét đó là nạp âm mệnh gì, các trung tinh, phụ tinh, sát tinh hội tụ cung Phúc Đức, cung Mệnh và cung Điền Trạch để dự báo. Riêng tuổi Kỷ Mão đến đại vận này thì do những ưu phiền đè lên bản thân, nên thường tìm đường đến đạo giáo, tâm linh.
Người tuổi Canh: Mệnh tạo có tinh thần phấn đấu lớn, người luôn bận rộn, không chấp nhận ngồi yên một chỗ. Bản thân thường hay bôn ba, là người có nhiều tài nghệ và tài năng được quần chúng thừa nhận. Ra bên ngoài luôn được quý nhân giúp đỡ, bản thân thường có cơ hội lớn. Cả nam lẫn nữ điều không có duyên với bên ngoại, không hợp với mẹ, con gái. Anh em trong nhà thường hay bất hòa, cãi nhau. Nữ mệnh, từ 2X-3X là có sự hanh thông về tiền bạc, giai đoạn 3X-4X gặp nhiều biến động, không tốt, từ sau 4X sẽ có sự hanh thông, về hậu vận hưởng phúc, sau 6X sống cô độc. Nam mệnh thì từ 3X-4X có thể dan díu thêm nợ phong lưu. Từ sau 5X sẽ rất tốt, càng về hậu vận càng đạt Phúc Lộc trọn vẹn.
Trên đây chỉ là một tóm tắt các ý cơ bản của Tham Lang ở Thìn, nếu viết chi tiết và đầy đủ thì phải mất ít nhất 70 trang A4 mới đầy đủ được ý nghĩa của các mệnh tạo nam nữ khác nhau mà có sao Tham Lang cư Thìn. Do không có nhiều thời gian nên với phần tóm gọn trên tôi hy vọng các bạn đam mê nghiên cứu tử vi có cái nhìn toàn diện hơn về Tham Lang cư Thìn. Hẹn gặp lại các bạn ở kỳ sau trong phần ĐÀO HÓA TỨ MỘ-Tham Lang tọa Tuất cung.


Tham Lang tọa Tuất cung.
Khi sao Tham Lang độc tọa tại Tuất cung giữ mệnh, thì Tài Bạch cung tại Ngọ có Phá Quân nhập miếu, Quan Lộc cung tại Dần có Thất Sát nhập miếu, đối cung có Vũ Khúc nhập miếu. Kết cấu tinh hệ SÁT-PHÁ- LANG điều nhập miếu giống như khi Tham Lang ở Thìn cung. Tuy nhiên, cục diện lại thay đổi hoàn toàn. Vì sao? Bởi vì lúc bấy giờ Thái Dương sẽ đi đến cung Tỵ độc tọa ở thế vượng địa, tại Tỵ cung sao Thái Dương được gọi là “U Trưng” có cường độ ánh sáng chỉ kém Li cung nhưng lại hơn ánh sáng ở 10 cung khác. Sao Thái Âm lúc bấy giờ sẽ đi đến cung Dậu, tại Dậu cung sao Thái Âm độc tọa thế vượng, còn được gọi là “Thiên Tường”, đây là thời điểm lúc mặt trăng vừa nhô lên. Lúc bấy giờ cung Điền Trạch tại Sửu có Thiên Lương ở thế vượng địa, nhận được ánh sáng của Nhật Nguyệt hợp chiếu nên tạo thành cảnh khá đẹp.
Về tổng quan, những ai có kết cấu Tham Lang cư Tuất cung cũng điều bất ngờ chuyển vận từ sau độ tuổi trung niên. Về cơ bản, mệnh tạo có mối quan hệ khá tốt với lục thân. Nhưng đối với người sinh những năm Bính, Tân và những người sinh trong tuần Giáp Ngọ thì mối quan hệ với Cha, chồng, con trai hoặc bên nội không được thuận lợi. Người sinh vào những năm Giáp, Kỷ và trong tuần Giáp Tuất thì mối quan hệ với mẹ, với con gái, với bên ngoại không được thuận lợi. Trường hợp cụ thể có thể là khi đương số sinh ra đến khi trưởng thành không biết được người thân bên ngoại; mẹ sức khỏe yếu, chết sớm hoặc không sống gần mẹ, sinh con gái thì con ngang bướng hoặc khó nuôi…, tùy theo mức độ hội tụ của các trung tinh, hung tinh để xác quyết cụ thể đối với từng lá số khác nhau.
Về phương diện sức khỏe, lúc bấy giờ cung Tật Ách sẽ có sao Thái Dương vượng địa. Sao Thái Dương có ngũ hành thuộc Dương Hỏa, nếu hội tụ Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương thì rất dễ bị các bệnh liên quan như cao huyết áp, bệnh tim, thị lực kém, có tật ở mắt, đau đầu…
Về công danh, tài lộc: Mệnh Tham Lang tại Tuất sẽ cát lợi hơn rất nhiều so với Tham Lang tại Thìn. Điều đầu tiên phải kể đến trong sự cát lợi này là vai trò của bộ Âm Dương ở thế vượng địa. Vì đây là bộ sao ngoài ý nghĩa Phú (Thái Âm) và Quý (Thái Dương), thì đây là bộ sao còn thể hiện đương số có được hậu thuẫn hay không được hậu thuẫn từ Cha, mẹ, bên nội, bên ngoại đối với mệnh tạo. Khi Tham Lang cư Tuất thì cung Phúc Đức tại Tý sẽ có Liêm Trinh, Thiên Tướng đồng độ. Kết cấu Thiên Tướng ở bất cứ cung nào cũng thường xảy ra cách cục Hình Kỵ Giáp Ấn hoặc Tài Ấm Giáp Ấn. Do sao Thiên Lương giáp cung Thiên Tướng Liêm Trinh tại Tý, do Thiên Lương nhận được ánh sáng từ Thái Dương, Thái Âm quân bình vượng địa hợp chiếu, nên bản thân Thiên Lương rất khó hóa khí thành hình khi đồng độ cùng Kình Dương (nếu âm dương hãm địa thì khả năng hóa khí thành Hình xảy ra rất cao). Chỉ có người tuổi Đinh sinh tháng 5 âm lịch thì Thiên Hình sẽ đồng độ với Thiên Lương và Cự Môn hóa Kỵ tại cung Hợi mới có cách Hình Kỵ Giáp Ấn. Người tuổi Quý thì Lộc Tồn đóng Tý cung, Liêm Tướng sẽ giáp Kình Đà nhưng Thiên Lương không hóa khí thành hình, do đó cách cục Hình Kỵ Giáp Ấn đối với người tuổi Quý có mệnh Tham Lang cư Tuất cung không xảy ra.
Ngoại trừ những bậc thiên tài hay kỳ nhân xuất chúng chiếm một số rất ít, phần lớn những người bình thường còn lại muốn có sự thành tựu hay đạt được một nấc thang nào đó trong đời sống xã hội, tất nhiên trước tiên phải cần đến sự hậu thuẫn từ cha mẹ (nuôi nấng, giáo dục, giúp đỡ về tinh thần, vật chất…) và sự hậu thuẫn, giúp đỡ tương tự từ Cậu, Dì, Chú, Bác bên nội và bên ngoại. Ví dụ đơn cử, nếu đương số được may mắn học và tốt nghiệp đại học, khi ra trường, nếu như Cha mẹ đương số nghèo nàn, ở quê lam lũ làm ăn, dòng họ hai bên nội và ngoại cũng cùng chung số phận là một nắng hai sương hoặc tệ hơn là không có người thân bên nội, ngoại. Như vậy đương số sẽ phải tự thân vác đơn đi xin việc nơi này, nơi kia, cuối cùng vẫn xin được việc làm nhưng phải trải qua thời gian thất nghiệp. So với người khác, có gia đình bên nội, ngoại thịnh vượng hoặc cha mẹ quyền chức, thì đương số không phải lâm vào hoàn cảnh như thế, mà chỉ trong vòng 1 đến 2 ngày sau khi tốt nghiệp là được vào làm ở một cơ quan có tiềm lực với mức lương cao hơn một số bạn đồng khóa. Sự sáng hay tối hãm của bộ Âm Dương trên lá số có vai trò rất quan trọng trong việc dự báo mối quan hệ với Cha/Mẹ, dòng họ nội ngoại. Đối với người sau khi lập gia đình, thì sự sáng tối của Nhật Nguyệt trên lá số sẽ cho thấy người đó quan hệ với chồng, vợ, con trai, con gái thuận hay bất thuận. Mà mái gia đìnhchính là điểm tựa quan trọng cho mọi sự thành công của cá nhân. Chính vì thế, sao Tham Lang tại Tuất tốt hơn ở Thìn là dựa vào bộ Âm Dương được quân bình. Khi bộ Âm Dương được quân bình thì kéo theo mối quan hệ với Cha mẹ tốt (sao Cự Môn tại Hợi là vượng địa, bản chất là ám tinh, nhờ ánh sáng của Thái Dương vượng địa chiếu rọi, trừ tuổi Đinh Cự Môn hóa Kỵ là kém).
Đời sống vợ chồng về cơ bản là tốt. Tại sao? Vì lúc bấy giờ cung Phu Thê ở Thân có tử vi, Thiên Phủ đồng cung. Kết cấu tử vi, Thiên Phủ ở Dần Thân cũng chứa nhiều khuyết điểm, điều này tôi sẽ trình bày trong một chuyên đề khác. Khi sao tử vi đến cung Phu Thê thì sẽ rất bất lợi cho hôn nhân (đối với nam mệnh), vì tử vi có tính cương cường, nghĩa là nam mệnh sau khi lấy vợ sẽ bị vợ điều khiển, mình chỉ còn là cái bóng sau lưng vợ. Điều này chúng ta thường thấy mà có thể dùng câu nói ví von ở không ít người đàn ông nói với vợ mình bằng một giọng cáu gắt “ Sao làm vợ mầy không muốn mà mầy muốn làm mẹ hả?”, do đó, nữ mệnh có sao tử vi ở cung Phu thê thì đẹp hơn nam mệnh. Khi Tham Lang tọa Tuất cung, Phu thê cung sẽ có tử vi, Thiên Phủ cùng đến thì sao? Nam mệnh có hành nạp âm là Mộc và Thủy mà có cung Phu Thê này thì khó mà có một vợ. Các mệnh tạo còn lại có cung phu thê này chỉ cần không thấy hung, sát tinh như Đà La, Địa Không, Địa Kiếp thì nam cũng như nữ mệnh: Một lần là trăm năm.
Về cơ bản, mệnh tạo có Tham Lang cư Tuất là có sự hậu thuẫn. Còn tài lộc như thế nào? Khi Tham Lang tọa Tuất cung, nếu được tam kỳ gia hội (Khoa, Quyền, Lộc) thì sự thành công về công danh và tiền bạc là điều chắc chắn, vấn đề này xét nghĩ không cần phải bàn thêm.
Khi Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, cung Thiên Di không gặp Tuần Không, Triệt Không, Thiên Không thì cách cục Vũ Tham Hỏa hoặc Vũ Tham Linh được thành lập. Cách cục này là nhờ vào kinh doanh mà phát tài, nhưng về cơ bản vận chỉ chuyển đổi từ 3X trở đi.
Khi Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, mà Thiên Di cung gặp Triệt Không, Tuần Không, Thiên Không thì cách cục Tham Hỏa hoặc Tham Linh được xác lập. Cách cục này chủ có cơ hội bất ngờ, đột ngột mà phát tài, như phát tài nhờ đầu cơ, tích trữ, trúng số, cờ bạc… Tất cả 2 trường hợp trên điều lấy Tham Lang đồng cung với Hỏa, Linh làm yếu tố chính, còn tam hợp chiếu là yếu tố thứ. Vì khi Hỏa hay Linh không nằm cùng Tham Lang, thì mức độ bất ngờ, đột ngột bị giảm xuống nhiều. Trong trường hợp Tham Lang không đồng cung cùng Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc trong hợp chiếu, xung chiếu không có Linh, Hỏa, mà khi đi đến vận gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì đương số cũng sẽ phát tài lên mạnh và bất ngờ, nhưng khi đi qua vận đó thì tài vận do Linh Hỏa tạo ra không phát nữa, lúc bấy giờ cần phải xem đương số có đi đến vận có Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Phủ, Thái Âm, Thiên Khôi, Thiên Việt hay không.
Về nghề nghiệp, khi Tham Lang tọa Thìn hay Tuất cung, nếu không thấy sát diệu mà thấy Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, đồng thời bản thân sao Tham Lang hóa khí thành Lộc (tuổi Mậu) là rất thích hợp làm chính trị, nếu như Tham Lang hóa khí thành Quyền (tuổi Kỷ) thì rất thích hợp làm trong quân đội, cảnh sát, tòa án. Còn cách Vũ Tham Hỏa hay Vũ Tham Linh thì kinh doanh sẽ phát tài. Khi xem xét mệnh tạo có Tham Lang nhập miếu ở Thìn hay Tuất, người xem số cần quan tâm đến 6 sao Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Hư, Âm Sát, Kình Dương, Đà La. Nếu Tham Lang gặp 2 sao Văn Xương, Văn Khúc thì mệnh tạo rất dễ có tính phong lưu, đa tình, và tính cách thường không an định, sốc nổi. Trong trường hợp này nếu có kèm theo Âm Sát và Thiên Hư nữa rất dễ làm cho mệnh tạo trở thành con người có tâm thuật bất chính, ngoài thì thế này nhưng trong lòng nghĩ khác, lợi dụng người hoặc dùng các thủ đoạn để trục lợi. Mệnh tạo loại này làm việc cũng không được hiệu quả, có kế hoạch nhưng thiếu thực tiễn, thiếu chí phấn đấu để đạt kế hoạch, chính vì vậy thích đi theo đường ngắn gọn để đạt mục đích, từ đó dễ lâm vào tà đạo. Nếu là Văn Xương hóa khí thành Kị hoặc Văn Khúc hóa khí thành Kị thì tình trạng sẽ tệ hơn, người xảo trá, dụng khẩu tài để lừa đảo người khác.
Khi Tham Lang tại Thìn hay Tuất, mà gặp Kình Dương hay Đà La đồng độ, nếu cùng cung không có Tuần Không, Triệt Không, Thiên Không, Thiên Hình thì tính trăng hoa, mê hoa luyến sắc khá cao, trong trường hợp này nếu gia hội thêm Hàm Trì, Mộc Dục, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Dao thì mệnh tạo cũng rất dễ vì sắc, cờ bạc mà mang họa. Mệnh người có Tham Lang tại Thìn Tuất, cần lưu ý đại hạn hoặc lưu niên mình đi có gặp Đà La, Kình Dương hay không, nếu có thì cần phải thận trọng các mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ khác giới, đồng thời cẩn thận các việc làm ăn mang tính rủi ro cao như cờ bạc, đầu tư chứng khoán, cá độ bóng đá, đua xe, đua ngựa… rất dễ phá tài, bại nghiệp.
Do Sát-Phá- Lang là nhóm sao biến động kịch liệt. Vì vậy, khi lưu niên đại hạn, đại hạn hay tiểu hạn đến gặp Tham Lang thì đương số sẽ có sự thay cũ đổi mới. Nếu Tham Lang đồng cung hoặc có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Khôi, Thiên Việt, Địa Không, Địa Kiếp, Tả Phù, Hữu Bật thì chủ về thay đổi theo hướng sáng lập cơ nghiệp. Trường hợp Tham Lang Hóa Lộc, nếu có thêm Hàm Trì, Hồng Loan, Thiên Dao, Mộc Dục thì sự thay đổi chủ yếu là vui chơi, được nhiều người mời đi ăn tiệc tùng, giao du bạn bè, thù tạc liên tục. Trường hợp thấy Hóa Lộc, Lộc Tồn mà có thêm Thiên mã, thì tài lộc sẽ gia tăng mạnh. Nếu cung hạn có Tham Lang hội Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa, Hồng Loan, Thiên Hỉ thì chủ về kết hôn, gia đạo có thêm người.

Tham Vũ tọa Sửu cung
Khi Tham Lang và Vũ Khúc đồng cung với nhau, mệnh lý học gọi cách này là Tham Vũ Đồng Hành cách. Cách này chỉ xảy ra ở 2 cung Sửu và Mùi.
Khi sao Tham Lang nhập miếu tọa tại Sửu cung, sẽ có Vũ Khúc đồng hành. Lúc bấy giờ cung Tài Bạch tại Dậu sẽ có Liêm Trinh-Phá Quân, tại Dậu cung, Liêm Trinh sẽ ở thế bình hòa, Phá Quân rơi vào thế hãm. Cung Quan Lộc tọa tại Tỵ cung sẽ có sao tử vi ở thế vượng và Thất Sát ở thế bình hòa đồng tọa. Lúc bấy giờ cục diện trên tinh bàn sẽ không còn cảnh thanh bình. Đế quân phải đi chinh chiến. Thiên Phủ bấy giờ sẽ nằm chơ vơ tại Hợi cung, ngước nhìn lên tử vi và Thất Sát đi chinh chiến. Sao Thái Dương lúc bấy giờ sẽ vượng địa nhập cung Dần đồng độ cùng Cự Môn , sao Thái Âm sẽ miếu địa đồng cung cùng Thiên Đồng tại Tý. Như vậy, mệnh an tại Sửu cung sẽ được giáp Nhật-Nguyệt rực rỡ.
Như vậy, cách cục của Tham Lang lúc bấy giờ thế nào đây? Tính hào sảng, phóng khoáng, ham mê cờ bạc, vì tình vì sắc mà mang họa của sao này còn không. Xin thưa với chư vị rằng, sao Tham Lang lúc bấy giờ đã biến ra thành một bộ mặt gần như hoàn toàn khác? Tại sao vậy?
Vũ Khúc là Tài Bạch tinh, trong âm dương ngũ hành thuộc Âm Kim. Là sao tài tinh rất tiêu chuẩn, lấy hành động xông pha kiếm tiền làm kim chỉ nam. Vũ Khúc còn là sao võ tướng, nên Tham Lang ở đây bị khống chế mạnh. Tham Lang đồng cung với Vũ Khúc, hành Mộc của Tham Lang bị thế Kim rất mạnh của Vũ Khúc tại Sửu (Sửu cung thuộc Thổ, sinh cho hành kim của Vũ Khúc) khống chế, sự hào hoa, phong nhã, phóng khoáng, phong lưu của Tham Lang bây giờ chỉ còn là vẻ bề ngoài, thực chất bên trong là một sự toan tính làm ăn, kiếm tiền không ngừng nghỉ. Do đó, mệnh tạo tại đây về cơ bản là người rất giỏi tính toán, tâm tình khá cứng cõi, là người có thực tài. Không chịu sự ràng buột, khống chế của thế lực ngoại nhân, giỏi sáng tạo, luôn tự kiểm tra hành vi và hành động bản thân để trả lời câu hỏi tại sao mình không đạt được thành công. Chính tố chất này, đã giúp đỡ không ít cho người Tham Vũ có sự thành công lớn về hậu vận. Tuy nhiên, đối với kết cấu này, thì phải sau trung niên mới phát lên, tức là ngoài độ tuổi 3X (X=2,3,4,5,6). Chính vì vậy, trong tử vi mệnh lý có câu phú khá nổi tiếng “ Tham Vũ mộ trung tàng, tam thập tài phát phú”. Tại sao có câu phú trên? Trong khi Vũ Khúc và Tham Lang đồng cung mệnh tạo luôn có sự tính toán cẩn thận, lòng khát khao kiếm tiền mãnh liệt mà phải chờ đến sau trung niên mới chuyển vận. Tân Kim của Vũ Khúc đi đến đất Sửu là Dưỡng, trong khi Giáp Mộc của Tham Lang đi đến Sửu là đất Quan Đới. Xét về ngũ hành thì Kim mới hình thành trong đất, nên sức chưa đủ mạnh để khống chế hoàn toàn tính dương Mộc của Tham Lang. Vì vậy, cần phải thời gian đi qua, để thế Kim mạnh lên, và thế Mộc yếu đi, để Kim có thể thuần phục được Mộc, Mộc được Kim thuần trở nên vật hữu dụng, và hành động kiếm tiền lúc bấy giờ mới bắt đầu phát huy tác dụng. Về tính chất, thì Vũ Khúc có tính uy nghi nhưng cứng rắn, Tham Lang đa tài đa nghệ nhưng nông nổi. Sự quá cứng rắn hay nông nổi của tuổi trẻ, khiến cho con người mặc dù có tài nhưng không có lực hoặc không đủ kinh nghiệm để kiểm soát hành động bản thân. Cần phải trải qua thời gian rèn luyện, để biến cái cứng rắn kia trở thành linh hoạt, uyển chuyển, cái nông nổi kia trở thành chững chạc, như thế mới có thể dụng được tố chất tốt của tổ hợp 2 sao. Một yếu tố khác rất quan trọng nữa, đó là 2 vầng Nhật-Nguyệt. Khi xem xét Nhật Nguyệt, điều quan trọng là chiếu và giáp, thủ chỉ là hàng thứ. Mệnh cách có Nhật Nguyệt giáp cung, tất sẽ ảnh hưởng rất mạnh từ kết cấu Nhật Nguyệt, không nên xem thường. Về lý tính, ánh trăng càng về khuya càng sáng, mặt trời càng về trưa càng phát ra sức nóng. Do đó, Nhật Nguyệt chiếu hay giáp mệnh hoặc thủ mệnh, tất cả điều phát huy mạnh tác dụng khi con người đi vào tuổi lập nghiệp, tức là bước vào tuổi trung niên. Kết hợp 2 yếu tố trên, nên phần lớn những người có Tham- Vũ đồng hành là những người ly hương lập nghiệp, tiên thiên có nhiều nỗ lực nhưng lại gặp trắc trở không thuận lợi, sau trung niên và hậu thiên trở đi vận khí khá tốt, tiền bạc sung túc, nếu mệnh hội đa trung và cát tinh là người có sự nghiệp lớn nơi tha hương.
Đối với những người sinh năm Thìn-Tuất-Sửu-Mùi mà có mệnh cung Vũ-Tham tại Sửu, thì có sự ứng hợp lớn. Nếu hội đa trung tinh và cát tinh, thì sự nghiệp của những người này không phải bình thường.
Khi Tham-Vũ đồng hành, thì Liêm-Phá ở Tài, Tử- Sát ở Quan Lộc. Nên mệnh cách này không sợ gian nan, dám đương đầu với những cạnh tranh khốc liệt, tiêu tiền như nước, tuổi trẻ nhiều gian lao, về hậu vận rất hanh thông, danh lợi song thu. Do mệnh có Tham Lang, tam phương có Thất Sát, Phá Quân, nên đây là mệnh cách biến động kịch liệt. Mỗi một lần thay đổi, biến động, là một lần tạo nên một bước ngoặc của cuộc đời.
Trường hợp Vũ Tham hội Hỏa, Linh thì đây là cách cục không thể xem thường. Mệnh cách này sau 3X thường có cơ hội đột phá lớn, cơ hội bất ngờ đến, một lần mà tạo nên sự nghiệp. Lưu ý rằng, nếu Vũ Tham Hỏa hay Vũ Tham Linh mà có Hóa Lộc đồng cung, chắc chắn sau 3X tuổi sẽ có một số tiền lớn bất ngờ đến với mình. Nếu mệnh có Tham Vũ Linh hoặc Tham Vũ Hỏa hay Tham Vũ Lộc mà ngộ Tuần Không, Triệt Không, thì đối với người tuổi dương can mức độ phát tài sẽ yếu và đến chậm hơn người tuổi âm can. Và cả 2 trường hợp này cũng không thể giàu sang bằng không có Tuần Không hay Triệt Không tọa thủ. Nhưng đối với mệnh Vũ Tham Hỏa hay Linh mà ngộ Tuần Không, thì khi họ giàu sang lên, hoặc phát tài lớn như trúng số, hoạnh tài người ngoài sẽ không thấy được, tức là đây là mệnh cách giàu ngầm. Còn trường hợp ngộ Triệt Không thì sự giàu sang của họ dễ bị người khác nhận diện ra. Tuy nhiên, khi xem số có mệnh Tham –Vũ –Linh, giới nghiên cứu cần phải soát xét kĩ xem sao Đà La và Văn Xương nằm ở đâu. Nếu đồng cung, hay tam hợp hay xung chiếu rất dễ hình thành nên cách cục cực độc đó là Linh-Xương-Đà- Vũ, đây là cách cục do sự thất bại, buồn khổ, cùng đường mà tìm đến cái chết. Nếu rơi vào cách cục này, mà gặp Triệt Không, hay Tuần Không ở mệnh thì không đáng lo ngại, chỉ là sự thất bại thôi chứ không dẫn đến đường cùng.
Mệnh cách này, nếu đồng độ với Đà La (tuổi Giáp) hay Kình Dương (tuổi Quý) sẽ rất dễ bị mang họa về sắc giới, dễ vì sắc mà bị lừa tiền hoặc vì sắc mà tự nguyện đưa tiền. Khi xem kết cấu này, cần phải lưu ý đến sao Hóa Kỵ. Nếu bản thân Vũ Khúc hóa Kỵ (tuổi Nhâm) sẽ không có lợi cho tài khí của Vũ Khúc, sự nghiệp rất dễ bị thất bại, không nên làm ăn kinh tế, thương mại, nên làm công ăn lương hoặc làm các nghề trong quân đội, cảnh sát hoặc làm nghề tình báo, gián điệp cũng có sự thành tựu không nhỏ. Ngoài ra, theo Sư Bá Lục Bân Triệu, thì khi Vũ Khúc hóa Kỵ ở cung mệnh thường chủ về tuổi thọ ngắn yểu. Điều này bản thân tôi chưa có kiểm nghiệm và thầy tôi, 2 vị sư thúc của tôi cũng chưa hay là không có phát hiện ra. Do chưa được kiểm nghiệm nên chỉ đưa vào nội dung phân tích này để các bạn tham khảo. Nhưng các bạn lưu ý, Vũ Khúc hóa Kỵ chỉ đối với người tuổi Nhâm, còn tuổi Quý thì Tham Lang hóa Kỵ có Vũ Khúc đồng cung, ý nghĩa của 2 hóa khí này hoàn toàn khác nhau.
Mệnh Vũ Khúc-Tham Lang cũng không có lợi đối với phụ nữ khi xét về hôn nhân. Bởi vì, Vũ Khúc là sao võ, tính cương khắc lớn, Tham Lang lại là sao Đào Hoa, nên nữ mệnh có tổ hợp này thường bất lợi trong tình duyên và hôn nhân. Tuy vậy, khi Vũ Tham giữ mệnh, thì phu thê cung tất có sao Thiên Phủ ở Hợi cung. Bản chất của Thiên Phủ là ổn trọng và bảo thủ, bản chất của Tham Lang là mạo hiểm và tham vọng, bản chất của Vũ Khúc là tính cương. Chính vì vậy mệnh nữ có Vũ Khúc-Tham Lang tất sẽ không thích hợp với chồng mình khi xét về tính cách. Tuy nhiên, chồng sẽ là người có trách nhiệm, biết chăm sóc gia đình. Bản chất của Thiên Phủ là sao tài khố, mang tính cất giữ, đứng đơn thủ chỉ có ý nghĩa là dư dật, đủ ăn, nhưng nếu hội với Lộc Tồn, Hóa Lộc thì chồng có thể khá giả về kinh tế. Như vậy, tổ hợp Vũ-Tham ở Sửu đối mệnh nữ với tuổi nào là bất lợi trong hôn nhân nhiều nhất: Đó là 6 tuổi: Giáp Dần, Giáp Thìn, Quý Mão, Quý Hợi, Nhâm Dần, Nhâm Thìn, trong đó, tuổi Quý Mão và Quý Hợi là bất lợi hôn nhânnặng nhất. Bởi vì các tuổi trên điều có sao Cô Thần, Quả Tú trong mệnh. Mà Vũ Khúc bản thân nó đã là sao cô khắc, khi hội với Cô Thần, Quả Tú thì tính cô khắc tăng lên rất nhiều lần. Sự cô khắc này không phải không có ai yêu, mà là có nhiều người yêu nhưng cứ trắc trở, đổ vỡ liên tục, khó đến được với nhau, sau khi lập gia đình thì nhiều chuyện xảy khiến phải ly hôn hay sinh ly tử biệt. Ngoài ra, do sự phân tích trên, tuổi Giáp thì Đà La đồng độ với Tham Lang, tuổi Quý thì Kình Dương đồng độ với Tham Lang đồng thời Tham Lang hóa Kỵ, tuổi Nhâm thì bản thân Vũ Khúc hóa kỵ. Nếu những tuổi này có cách Tham Vũ thì sẽ rất vô cùng bất lợi cho hôn nhân. Nếu muốn kiểm nghiệm học thuyết của môn phái tôi, các bạn nghiên cứu tử vi có thể đi tìm 10 lá số của các mệnh nữ Quý Hợi, Quý Mão có cách Tham Vũ ở Sửu, bạn sẽ thấy rằng những phân tích trên không sai chút nào.
Về cách Vũ Tham tại Sửu, đối với những người tuổi Quý Tỵ,Quý Dậu và Quý Sửu là những người có tính tham vặt, tính cách không tốt, bất chấp thủ đoạn, đây là những người có dục vọng sâu nặng, nhân cách không được tốt. Tại sao vậy? Bởi vì tuổi Quý tất có Lộc Tồn tại Tý, Kình Dương sẽ đồng độ với Vũ Khúc- Tham Lang, Tham Lang hóa khí thành Kỵ nên tổ hợp các sao này ở mệnh cung hình thành nên các tính cách rất không tốt. Sư Bá Lục Bân Triệu đưa ra 3 tuổi Tỵ-Dậu-Sửu có mệnh an tại Sửu là tính cách không tốt, nhân cách bất chính. Nhưng theo tuyệt kỹ của chúng tôi, chỉ có 3 tuổi Quý Tỵ- Quý Dậu- Quý Sửu có mệnh cung an tại Sửu là có nhiều khuyết điểm nhất, các tuổi Tỵ-Dậu-Sửu còn lại điều cũng có tính tham vặt và dục vọng nặng, nhưng tính cách cũng không đến nổi quá tệ. Tại sao chúng tôi không đồng ý hoàn toàn với lập luận của Lục Bân Triệu, nguyên nhân bởi vì đối với tuổi Tỵ-Dậu-Sửu thì tại Sửu cung có Hoa Cái, Tài cung có Tướng Tinh, cung Tỵ có Chỉ Bối. Khi mệnh an tại Sửu cung đối với người tuổi Tỵ-Dậu-Sửu thì sẽ nằm trong tam hợp Tướng Tinh-Hoa Cái- Chỉ Bối. Nếu người tuổi Tỵ-Dậu-Sửu mà có thân cư Quan Lộc hay thân cư Tài Bạch thì là người có tài năng, nhưng tiền bạc dễ bị phá tán mạnh, không tụ tài, còn bị người khác dèm pha, ghen ghét về tài học, công việc, nhưng bản chất của họ chưa chắc đã xấu, vì mệnh họ do những nghịch cảnh cuộc sống đưa tới khiến cho tính chất Hoa Cái phát huy mạnh, lúc bấy giò họ thường mang tư tưởng u uất, trầm uất, muốn xuất thế, trốn tránh hiện thực, nếu sinh vào tháng 5 âm lịch thì càng có tư tưởng xuất thế, vì lúc bấy giờ Tham Lang sẽ đồng cung cùng Thiên Hình, Hoa Cái, trừ tuổi Quý (Tỵ- Dậu- Sửu) như đã phân tích ở trên.
Tuổi Giáp: Nam mệnh cũng như nữ mệnh là người danh lợi song thu, sức khỏe khá tốt. Mệnh cách có tài khí mạnh, sau 3X vừa có danh vừa có lợi. Nếu hội thêm Linh tinh ở cung mệnh thì chủ về có cơ hội hoạnh phát, không bất ngờ nhưng từng bước đi lên nhưng tuổi trẻ chịu nhiều gian khổ. Trường hợp thấy Linh Tinh ở cung mệnh là tốt nhất, nếu là Hỏa tinh thì phá cách, không tốt. Mệnh này lấy hành động kiếm tiền của Liêm Trinh làm chủ yếu, tức là phải trải qua gian lao vất vả, khi chuyển vận thì tài khí cực kỳ hanh thông. Có cơ hội đột phá mà làm nên sự nghiệp. Tuy nhiên, mệnh cách này nếu đã có Linh Tinh tất không nên gặp Văn Xương trong mệnh hay tam hợp, xung chiếu. Nếu không sẽ hình thành nên cách cục Linh Xương Đà Vũ là cách đau khổ, thất bại, bần hàn đến đường cùng phải tìm đến cái chết, tuổi Giáp Dần thì không lo sợ cách này. Mệnh tạo này lấy được vợ đôn hậu, tính cách ổn trọng, bảo thủ, nhưng giữa bản thân mình và vợ không hợp tính nhau. Do Đà La nằm sẵng ở cung mệnh, nếu mệnh tạo hội thêm Thiên Dao, Mộc Dục, Hàm Trì, Hồng Loan, Thiên Hỉ, tất nhiên sau khi có tiền thì máu hiếu sắc, tham “của lạ” ,“chán cơm, thèm phở” sẽ nổi lên, nên cũng chủ vì sắc mà mang họa cho bản thân, chủ là họa về gia can bất ổn, người tuổi Giáp Dần gặp cách này tuy cóngoại tình nhưng vợ không phát hiện được. Trường hợp mệnh cung gia hội thêm Địa Không, Địa Kiếp thì phúc không trọn vẹn, có tiền nhưng sau đó sẽ phá tán hết. Mệnh nữ đối với tuổi Giáp Dần, Giáp Thìn thì mức độ hình khắc hôn nhân rất lớn, dễ có nhiều lần dang dở hôn nhân. Cũng lưu ý rằng, nếu người tuổi Giáp mà sinh giờ Dậu thì tuổi trẻ được sung sướng, hưởng thụ nhưng qua trung niên không thể phát được.
Tuổi Ất: Duyên với anh em bạc, dễ bị cận thị trước 2X tuổi. Tài vận từ sau 3X là phát rất mạnh, từ sau 3X vừa có tiền vừa có quyền. Nếu đồng độ với Hỏa, Linh thì có cơ hội bất ngờ mà được tiền tài. Riêng tuổi Ất Sửu thì hôn nhân, tình duyên không tốt, tuổi thanh xuân gặp nhiều trắc trở trên tình trường, sau khi lập gia đình thì thường bị đổ vỡ bất ngờ. Đại hạn, lưu niên đại hạn, tiểu hạn đi đến cung Phu thê thì thường điêu đứng về tiền bạc, thay đổi công việc, trắc trở đời sống vợ chồng.
Tuổi Bính: Tuổi Bính, nếu mệnh tạo hội Hỏa, Linh thì sau trung niên chuyển vận, phát tài đột ngột. Nhưng công việc thường không ổn định, hay thay đổi. Sức khỏe kém, nữ mệnh, sau 5X tuổi thường bị bệnh ung thư. Tuổi Bính Thìn, nếu thân cư Quan Lộc, thì dù có hội Hỏa, Linh cũng khó mà phát triển bền, thường hoạnh phát, hoạnh phá. Tuổi Bính Dần thì hôn nhân không thuận, đường tình duyên dễ gẫy đổ bất ngờ. Tuổi Bính Tý thì sức khõe tốt bẩm sinh có năng khiếu đặc biệt về tâm linh, tôn giáo, công việc không ổn định, hay thay đổi công việc, nam mệnh sau 5X thường có khuynh hướng nghiên cứu tôn giáo, tâm linh, xuất thế.
Tuổi Đinh: Nếu hội Hỏa Linh thì mới tốt, có cơ hội chuyển vận sau trung niên. Nếu không thì tiền đến tiền đi, mà nhiều lo toan, vất vả về tiền bạc. Anh em giàu có, nhưng không nhận được sự trợ lực từ anh em. Người tuổi Đinh Âm nữ gặp cách này, duyên với lục thân mỏng, duyên với Cha mẹ, bên nội ngoại không thuận, trước 3X lắm tai nạn, sau 3X có phần thuận lợi hơn, nhưng cuộc đời rất thăng trầm, sau 5X mới có thể nhàn hạ, đỡ lo lắng về tiền. Nếu âm nam thì Thân cư Thê mới mong khá giả, an lành.
Tuổi Mậu: Mệnh Song Lộc Triều viên, Thiên Ất quý nhân củng mệnh, nếu gia hội thêm Hỏa Linh, sau 3X sẽ có sự phát triển rực rỡ về tiền tài, danh vọng, sự nghiệp cực lớn. Nếu không có Hỏa, Linh cũng chủ về giàu có, nhưng mức độ phát mạnh và đột ngột trong trường hợp có Hỏa, Linh đồng cung. Tuổi Mậu Thìn, mệnh được Song Lộc Triều viên, Thiên Ất củng mệnh, nhưng do Lộc Tồn đồng độ Thiên Không (Thiên Không ở tứ sinh, Dần Thân Tỵ Hợi) nên số không nghèo. Nên vận dụng khả năng ngoại giao của mình để tạo ra tiền tài sự nghiệp, có thể giàu lớn. Đời sống hôn nhân không thuận, tình cảm vợ chồng vui ít buồn nhiều, dễ gẫy đổ bất ngờ, gia trạch không yên, sau 3X chuyển vận tốt. Nên làm ăn với người khác phái cũng dễ có thành tựu, nhưng nếu có Không, Kiếp hội cung Tài thì phải cẩn thận, dễ vì sắc mà tán tài, bại nghiệp. Tuổi Mậu Dần, sức khõe khá tốt, tiền bạc, tài vận tốt, có sự nghiệp lớn sau 3X tuổi, trường hợp nếu gia thêm Linh-Hỏa thì sự nghiệp phi thường, có thể là đại gia trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, nếu người thân cư Tài Bạch thì sự nghiệp cũng chả có gì lớn lao, nhưng cũng chủ về khá giả. Nam mệnh lấy được vợ đẹp, nhờ vợ, vợ tính cách tốt, gia đình khá giả. Nữ mệnh lấy được chồng tốt, nhưng do bất mãn chồng về tính cách, sau 4X sẽ ngoại tình, và việc vụng trộm này chồng không phát hiện được. Tuổi Mậu Ngọ, sớm xa cha mẹ ly hương lập nghiệp. Duyên với anh em, mẹ và bên ngoại bạc, sau 3X gia đạo không yên, sau 4X sẽ khá giả, nhưng sự nghiệp vẫn bình thường. Nếu tuổi Mậu Ngọ sinh giờ Dậu, thì sự nghiệp không có gì, cuộc đời luôn gặp tai bay vạ gió, lắm trắc trở, tối kị.
Mẫu người “Tham Vũ Đồng Hành” là những người có cung Mệnh an tại tứ mộ, tức là bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và có hai sao Tham Lang và Vũ Khúc tọa thủ đồng cung hoặc xung chiếu với nhau. Nếu cung Mệnh an tại Thìn và Tuất, thì Tham Lang và Vũ Khúc sẽ xung chiếu với nhau. Nếu cung Mệnh an tại Sửu và Mùi thì Tham Lang và Vũ Khúc sẽ tọa thủ đồng cung. Sau phần trình bày khái quát về cuộc đời của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành nói chung, chúng ta sẽ đi vào chi tiết để xem sự khác biệt của mẫu người tuy là Tham Vũ Đồng Hành, nhưng Tham Vũ đồng cung tọa thủ tại Mệnh có gì khác biệt với người Tham Lang thủ Mệnh và Vũ Khúc xung chiếu, cũng như Vũ Khúc thủ Mệnh và Tham Lang xung chiếu? Trước tiên, chúng ta nói qua về đặc tính của hai sao Tham Lang và Vũ Khúc là hai chính tinh trong cách Tham Vũ Đồng Hành Cư Tứ Mộ, rồi sau đó mới nói đến hai sao phụ khác nữa là Linh Tinh và Hỏa Tinh thì mới đủ bộ và đúng cách. Tham Lang là Bắc Đẩu tinh, hành của Tham Lang có người cho là hành Thủy, có người cho là hành Hỏa và cũng có người cho là hành Mộc. Theo thiển ý của người viết thì Tham Lang thuộc hành Mộc, bởi vậy, khi Tham Lang (đào hoa) tọa thủ tại cung Tí (cung Thủy), khoa tử vi gọi đây là cách Phiếm Thủy Đào Hoa, nghĩa là hoa đào trôi dạt trên dòng nước. Bản tính của Tham Lang là đặt nặng vấn đề vật chất trong cuộc sống.
Thích hội hè đình đám, những chỗ đông người với những cuộc vui. Tính rất năng động, háo danh, háo thắng và thích làm những chuyện lớn cho nên có nhiều tham vọng. Ưu điểm của Tham Lang là có năng khiếu về kinh doanh, có khả năng tổ chức, nhưng khuyết điểm là mau chán nản và dễ bỏ cuộc nửa chừng. Nếu Tham Lang ở các vị trí miếu hay vượng địa thì chủ về uy quyền, giàu sang và sống lâu. Vũ Khúc cũng là Bắc Đẩu tinh và thuộc hành Kim. Bản chất của Vũ Khúc rất nghịch với Tham Lang ở điểm Tham Lang thích vui chơi ở chỗ đông người thì Vũ Khúc lại thích cô đơn, làm việc gì cũng muốn độc hành. Người có Vũ Khúc thủ Mệnh tính gan dạ, táo bạo, có khả năng tổ chức, có đầu óc kinh doanh, chủ quyền uy, danh vọng và giàu sang. Chính những điểm tương đồng này giữa Vũ Khúc với Tham Lang mà bộ Tham Vũ là một bộ sao của những tay kinh doanh có hạng trên thương trường.
Có người cho rằng Tham Vũ là hai sao thuộc về võ cách, tượng trưng cho võ nghiệp thì tại sao lại hợp với lãnh vực kinh doanh? Để trả lời cho điều này, chúng ta hãy nhìn vào cuộc sống của người Hoa Kỳ cũng như cộng đồng người Việt tị nạn, một số những cựu quân nhân, sau khi giã từ vũ khí, họ đã thành công một cách dễ dàng trên thương trường. Vậy phải chăng, những đức tính và khả năng cần có của một người điều binh trên chiến trường cũng cần thiết cho một người lăn lộn trên thương trường, đúng với câu mà người Trung Hoa vẫn nói: thương trường như chiến trường. Được xem là đắc cách Tham Vũ Đồng Hành thì hai sao Tham Lang và Vũ Khúc phải đóng tại bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là tứ mộ, bốn cung này thuộc hành Thổ cho nên đó là bốn vị trí miếu địa, vượng địa của hai sao Tham Vũ. Một điều kiện quan trọng khác là tại bốn vị trí này, bộ Tham Vũ phải gặp một hoặc cả hai sao Linh Tinh, Hỏa Tinh. Hai sao Linh Hỏa có thể đồng cung, xung chiếu hay tam hợp chiếu với hai sao Tham Vũ thì mới đầy đủ uy lực mà khoatử vi thường gọi là cách Tham Vũ đồng hành cư tứ mộ, ngộ Linh, Hỏa hào phú gia tư, hầu bá chi quý. Có nghĩa là người Mệnh an tại bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có Tham Lang và Vũ Khúc đồng cung hay xung chiếu, lại thêm có một hoặc hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh chiếu vào là số giàu sang, phú quý như bậc hầu bá dưới thời phong kiến ngày xưa.
Điều mà chúng ta lưu ý ở đây là sự thành công, phú quý của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành không phải từ quan trường, mà chính là từ thương trường. Như trên chúng ta đã nói, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành rất gan dạ, tự tin, nhiều tham vọng, có óc tổ chức và có năng khiếu về thương mãi, cho nên họ là những tay kinh doanh có tầm vóc chứ không phải chỉ làm ăn buôn bán lẻ tẻ. Đó phải chăng là do sự ảnh hưởng kỳ diệu của vòng Ngũ Hành tương sinh trong cách này: hành Hỏa của Linh Tinh, Hỏa Tinh một mặt phù trợ cho hành Thổ của bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi để tương sinh cho hành Kim của Vũ Khúc, đồng thời cũng đốt cho Kim này thành Thủy để dưỡng Mộc của Tham Lang, rồi Mộc của Tham Lang lại là củi cho ngọn lửa Linh, Hỏa cháy bùng lên…

Một đặc điểm khác đáng lưu ý của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành là vì ảnh hưởng của Vũ Khúc, cho nên mẫu người này thường lao đao, lận đận trong tiền vận, và sớm lắm thì cũng phải qua trung vận, đa số phải đến hậu vận mới có thể gọi là thành công như ý muốn và lúc đó cơ nghiệp mới có thể bền vững được. Hỏa Tinh và Linh Tinh là hai sao Hỏa, cho nên lúc phát thì sẽ giúp cho bộ Tham Vũ phát rất nhanh, nhưng nếu phát không đúng vào thời vận thì cũng chỉ như ngọn lửa rơm, bùng lên rồi cũng tắt đi một cách nhanh chóng. Nếu biết được lý lẽ này, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành chẳng nên bôn ba sớm trong cuộc đời mà chuốc nhiều phiền não, đắng cay.
Điều này rất nhiều người đã biết, nhưng họ không cam lòng, để cuối cùng cũng nói được một câu an ủi với chính mình như Nguyễn Du đã nói: càng phong trần danh ấy càng cao! Đặc điểm này thấy rõ nhất ở những người Tham Vũ Đồng Hành mà Mệnh an tại hai cung Sửu và Mùi, hai sao Tham Vũ sẽ đồng cung, khắc chế nhau mạnh mẽ trong tiền vận (khoảng 33 hoặc 36 tuổi) khiến cho đương số bao lần thấm mệt và sớm ngộ được cái ý nghĩa của câu: có tài mà cậy chi tài… Phải qua trung vận và bắt đầu vào hậu vận thì sự nghiệp của người Tham Vũ Đồng Hành có Mệnh an tại Sửu hay Mùi mới được ổn định và bền vững cho đến cuối cuộc đời.
Nói đến sự thành công của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành nhanh hay chậm, bền vững hay ngắn ngủi thì chúng ta cũng nên lưu ý trường hợp nếu Mệnh an ở tứ mộ, có Tham Lang tọa thủ đồng cung với Hỏa Tinh, thì đây còn gọi là cách Tham Hỏa Tương Phùng, nếu gặp Linh Tinh thì gọi là cách Tham Linh Tịnh Thủ, cũng là những dạng của Tham Vũ Đồng Hành, nhưng với cách này, khi đến thời, đương số sẽ phát rất nhanh vì ảnh hưởng mạnh mẽ của Ngũ Hành tương sinh giữa Tham Lang thuộc Mộc và Hỏa Tinh thuộc Hỏa đồng cung với nhau. Tuy nhiên, công danh sự nghiêp dù có phát rất nhanh chóng, nhưng cũng chẳng giữ được lâu bền, vì đây cũng chỉ là cách bạo phát, bạo tàn mà thôi. Tương tự như vậy, chúng ta xét đến vị trí của hai chính tinh Tham Vũ tại tứ mộ.
Đối với những người Tham Vũ Đồng Hành mà Mệnh an tại hai cung Thìn và Tuất thì sự khắc chế của hai sao Tham Vũ tương đối nhẹ hơn vì nằm trong vị trí xung chiếu nhau, vì vậy, sự nghiệp của mẫu người này sẽ thành đạt sớm hơn, nhưng mức độ của sự thành đạt lại không có kích thước bằng những người Mệnh an tại Sửu Mùi. Và một điểm khác biệt nữa là cá tính của mỗi mẫu người Tham Vũ Đồng Hành sẽ có sự khác biệt tùy theo cung an Mệnh.
Khi Mệnh an ở Thìn Tuất thì nếu chúng ta giao tiếp với những người này, chúng ta sẽ nhận ra họ như có hai con người khác nhau: một con người vì ảnh hưởng của Vũ Khúc nên thường sống cô độc, suy nghĩ và quyết định một mình, nhưng khi ra ngoài, sao Tham Lang lại làm cho họ thành một con người khác, họ biết nói, biết làm cho vui lòng người khác, mặc dù trong thâm tâm họ không thích như vậy, và phải chăng đây cũng là một đặc tính giúp họ thành công trong lãnh vực kinh doanh? Tóm lại, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành là một mẫu người lý thú khi chúng ta quen biết hoặc hợp tác trong vấn đề làm ăn mua bán với nhau. Họ là những người có cá tính rất mạnh, gan lì, táo bạo và nhiều tham vọng. Địa bàn giúp họ thành công là thương trường. Và thời điểm mà họ xây dựng được sự nghiệp như ý là hậu vận của cuộc đời.
Chia sẻ.

Bình luận