TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG – Phần 24

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

(Tuvivietnam – siêu tầm)

31.爻 逢 合 住 縱 動 無 功
Hào phùng hợp trú, túng động vô công
Hào nếu gặp hợp, dù động cũng vô ích.
Phụ động thì mưa, Tài động thì tạnh, là lẽ đương nhiên. Nhếu bị Nhật thần hợp, tuy động cũng như tĩnh, đợi Nhật thần xung Phụ hào có thể mưa, xung Tài hào có thể tạnh.

32.合 父 鬼 冲 開 有 雷 則 雨 – 合 財 剋 破 無 風 不 晴
Hợp Phụ, Quỷ xung khai, hữu lôi tắc vũ,
Hợp Tài, Huynh khắc phá, vô phong bất tình
Hợp với Phụ, Quỷ xung khai, có sấm sẽ mưa;
Hợp với Tài, Huynh khắc phá không gió không tạnh.
Như động hào hợp với Phụ hào, được Quan quỷ khử xung động hào, trước sấm sau mưa. Tài bị động hào hợp, được Huynh Đệ khắc phá động hào, không gió thì không tạnh.

33.坎 巽 互 交 此 日 雪 花 飛 六 出
Khảm Tốn hỗ giao, thử nhật tuyết hoa phi lục xuất
(Khảm Tốn cùng động thì ngày đó hoa tuyết bay)
Khảm Tôn là nói đến Phụ và Huynh đều động. Xem vào mùa đông, có tượng gió tuyết tung bay.

34.陰 陽 各 半 今 朝 霖 雨 慰 三 農
Âm dương các bán, kim triêu lâm vũ uý tam nông
Âm dương mỗi thứ một nửa thì hôm đó mưa dầm, an uý nhà nông.
Âm và tình là nói đến 2 hào Quan và Phụ. Như ccầu mưa mà thấy Quan và Phụ đều vượng động mà không có xung hợp thương tổn thì ngày đó có mưa.

35.兄 弟 木 興 係 巽 風 而 馮 夷 何 其 肆 虐
Huynh Đệ mộc hưng hệ Tốn phong, nhi Phùng Di hà kỳ tứ ngược
Huynh Đệ thuộc mộc động liên quan cung Tốn, để Thần gió sao quá bạo ngược.
Gặp Huynh Đệ thuộc mộc ở cung Tốn, vượng động hình khắc hào Thế thì lo có gió lếu Phụ cũng vượng động chủ gió mưa hoà lẫn.

36.妻 財 發 動 屬 乾 陽 而 旱 魃 乎 爾 行 凶
Thê Tài phát động thuộc Càn dương nhi hạn bạt hồ nhĩ hành hung
Thê Tài động thuộc cung Càn dương sao mà Thần hạn quá hành hung.
Tài hào phát động, hoặc biến nhập quẻ Càn, lại gặp Nguyệt kiến Nhật thần sinh phù hợp trợ tất chủ đại hạn.

37.六 龍 御 天 祇 為 蛇 興 震 卦
Lục long ngự thiên chỉ vi Xà hưng Chấn quái
Lục long hiện ở trời chỉ vì Đằng Xà động ở cung Chấn.
Chấn có tượng rồng, nếu thấy Thanh Long hoặc hào Thìn tại cung Chấn vượng động, tất có rồng hiện. Nếu Phụ hoá Thìn thì trước mưa sau có rồng. Nếu Thìn hoá Phụ thì trước thấy rồng sau có mưa. Phụ hào an tĩnh hoặc Không phục, rồng tuy hiện mà không mưa, hoá Tài cũng thế.

38.五 雷 驅 電 蓋 緣 鬼 發 離 宮
Ngũ lôi khu điện cái duyên Quỷ phát Li cung
Sấm xua chớp vốn do Quỷ động ở cung Li.
Có tiếng là sấm, không tiếng là chớp. Nếu Quỷ ở cung Ly động nên đoán là sấm động xua chớp. Vốn quẻ Li tượng có màu sắc. Quỷ thuộc hoả cũng thế.

39.土 星 依 父 雲 行 雨 施 於 天-木 德 扶 身 而 日 暖 風 和 之 景
Thổ tinh y Phụ, vân hành vũ thí ư thiên
Mộc Đức phù thân, nhật noãn phong hoà chi cảnh
Phụ có hành Thổ, trời chuyển mây mưa,
Phúc Đức thuộc Mộc trợ Thân, tượng nắng ấm gió dịu.
Thổ chủ mây, Phụ chủ mưa, cho nên Thổ lâm Phụ động thì tượng mây chuyển trời mưa. Mộc chủ gió, Tài chủ tạnh. cho nên Mộc lâm Tài động có nắng ấm gió dịu.

40. 半 晴 半 雨 卦 中 財 父 動 興
Bán tình bán vũ, quái trung Tài Phụ đồng hưng
Nửa mưa nửa tạnh, trong quẻ Tài Phụ cùng động.
Thê Tài, Phụ Mẫu đều động tất nhiên nửa mưa nửa tạnh.vượng tạnh nhiều mưa ít, Phụ vượng Tài suy thì mưa nhiều tạnh ít.

41.多 霧 多 煙 爻 象 財 官 皆 動
Đa vụ đa yên, hào tượng Tài Quan giai động
Nhiều sương nhiều khói, trong quẻ Tài Quan đều động.
Tài động chủ tạnh, Quỷ động chủ âm u. Quan vượng Tài suy thì sương nặng hạt như mưa phùn. Quỷ suy Tài vượng thì khói mờ chốt lát rồi sáng tỏ.

42.身 值 同 人 雖 晴 而 日輪 含 曜
世 持 福 德 縱 雨 而 雷 鼓 藏 聲
Thân trị đồng nhân, tuy tình nhi nhật luân hàm diệu
Thế trì Phúc Đức, túng vũ nhi lôi cổ tàng thanh.
Thân ở cùng người, tuy tạnh mà trời cũng không sáng
Thế ở Phúc Đức nếu mưa cũng không có tiếng sấm.
Phàm Huynh Đệ trì Thế, động thì khắc Tài, Tài nếu vượng tướng trời cũng không trong sáng. Tử Tôn trì Thế nếu động thì khắc Quan, Quan nếu động tuy mưa cũng không có tiếng sấm.

43.父 空 財 伏 須 救 輔 爻
剋 日 取 期 當 明 占 法
Phụ Không, Tài phục tu cứu phụ hào
Khắc nhật thủ kỳ, đương minh chiêm pháp.
Phụ lâm Không, Tài phục nên xét Nguyên thần
Chon ngày ứng việc, cần rõ phép xem.
Phụ[1] hào là Nguyên thần. Xem mưa lấy Phụ Mẫu làm Dụng thần, lấy hào Quan quỷ làm Nguyên thần; xem tạnh ráo lấy Tài hào làm dung thần, lấy Tử Tôn làm Nguyên thần. Nếu Dụng thần Không phục, suy vượng, động tĩnh, xuất hiện, Mộ Tuyệt, hợp xung, Nguyệt phá thì phải dúng phép định bệnh trên các hào mà quyết đoán ngày ứng việc.
Nay lấy Dụng thần làm phép tắc mà định lúc ứng việc như sau:
– Dụng thần phục tàng chờ ngày Dụng thần xuất lộ thì ứng việc; như Dụng thần an tĩnh chờ ngày xung tĩnh thì ứng việc; như Dụng thần Tuần không an tĩnh, chờ xuất Tuần gặp ngày xung thì ứng việc; như Dụng thần tĩnh Không gặp xung, gọi là xung khởi, chờ xuất Tuần gặp ngày hợp sẽ ứng việc; như Dụng thần tĩnh Không gặp chờ, chờ xuất Tuần gặp ngày xung thì ứng việc; như Dụng thần phát động mà không bị gì khác, chờ gặp ngày hợp ứng việc; như Dụng thần Tuần không phát động gặp xung ,gọi là xung thực, thì ứng việc vào ngày này. Như Dụng thần phát động gặp hợp, động Không gặp hợp cũng tĩnh mà gặp hợp, đều chờ ngày xung mà ứng việc; như Dụng thần nhập Mộ ở Nhật thần, chờ ngày xung Dụng thần sẽ ứng việc; như Dụng thần tự hoá nhập Mộ, chờ ngày xung khai Mộ khố sẽ ứng việc; như Dụng thần bị hào khác động hợp, hay tự đống hoá hợp chờ ngày xung khai hào hợp với Dụng thần thì ứng việc. Như Dụng thần bị Nguyệt phá chờ ra khỏi tháng gặp ngày trị hoặc ngày hợp thì ứng việc; như Dụng thần Tuyệt ở Nhật thần hoặc hoá Tuyệt ở hào , chờ ngày Trường Sinh sẽ ứng việc;
Như Nguyên thần hợp cục khắc mà Dụng thàn phục tàng, chờ ngày xuất lộ ứng việc; như Tuần không thì chờ ngày xuất Tuần ứng việc.
Cho nên thep phép thì hợp thì chờ xung, xung thì chờ hợp; Tuyệt thì đợi Sinh, Mộ thì đợi mở; Phá thì đợi bổ, Không thì xuất Tuần, Suy thì đợi vượng. Việc xa thì đoán vào tháng ngày, việc gần thì đoán ngày giờ. Cho nên bảo: “Chọn ngày ứng việc nên rõ phép xem” .
Mưa thì nên xét hào Phụ Không mà bất Không; tạnh thì nên xét hào Tài tuy phục mà không phục.Đã biết Dụng thần, còn nên xét thêm Nguyên thần. Cho nên bảo:” Phụ Không Tài phục nên xét Nguyên Thần”. Chữ “tu” nên có nghĩa là “kiêm” (kèm thêm), mà xưa chú thích nghi là xem mưa mà hào Phụ lâm Không, bất tất phải theo hào Phụ, nên lấy Nguyên thần mà suy; xem tạnh mà Tài hào phục, bất tất phải theo hào Phụ mà lấy Nguyên thần để đoán, lấy từ mà đoán nghĩa, cho nên ta phải trình bày cặn kẻ.

44.要 知 其 詳 別 陰 陽 可 推 晴 雨
欲 知 其 細 明 衰 旺 以 決 重 輕
Yếu tri kỳ tường, biệt âm dương khả suy tình vũ
Dục tri kỳ tế, minh suy vượng dĩ quyết trọng khinh
Muốn biết rõ, phân âm dương để suy tạnh hay mưa,
Muốn biết cặn kẽ, ró suy vượng để quyết nặng nhẹ.
Câu này ý nói đại lược mà thôi. Âm dương, động biến là quan trọng lớn lao (định mưa hay tạnh), còn nhỏ bé và ít oi là bởi vượng suy. Như vậy có thể đoán định được mưa to hay nhỏ.

[1] Phụ ở đây có nghĩa là “trợ giúp”

Chia sẻ.

Bình luận